„hội đoàn quân đội không chỉ kéo dài sự hiện diện biểu tượng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mà còn bảo đảm cho ý niệm Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục tồn tại như một hệ giá trị — tồn tại bằng hợp tác, bằng tham gia, và bằng trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp.“

 

Quang Nguyên

 

  Sau nửa thế kỷ lưu vong, các hội đoàn quân đội Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là nơi gìn giữ nghi lễ, quân phục hay lòng yêu nước nồng nàn, mà còn là những thiết chế ký ức sống, nơi tinh thần huynh đệ, kỷ luật và phẩm giá của một quốc gia từng mất lãnh thổ vẫn được tiếp nối. Giờ đây, khi thế hệ cựu quân nhân dần lui vào hậu trường, nguồn lực trẻ, những hậu duệ hoặc những người say mê giá trị của Quân lực VNCH nói riêng, của quốc gia VNCH nói chung, sẽ là chìa khóa để duy trì, làm mới và mở ra tương lai cho các hội đoàn này.

Sau biến cố tan vỡ của Việt Nam Cộng Hòa, người Việt lưu vong tìm đến nhau như phản xạ sinh tồn của một cộng đồng bị bật rễ. Từ mấy trại tỵ nạn cho tới những xứ sở định cư, họ lập ra nhiều hội đoàn — từ Hướng Đạo, Phật Tử, Thiếu Nhi Thánh Thể … các tổ chức tôn giáo, tới cộng đồng người Việt, và đặc biệt là những hội đoàn liên quan đến quân đội; không chỉ để nương tựa nhau, mà còn để khẳng định rằng một quốc gia có thể mất lãnh thổ, nhưng không thể đánh mất ký ức, kỷ cương và phẩm giá.

Nói riêng về các hội đoàn có liên quan đến quân lực Việt Nam Cộng Hòa như Hội Cựu Chiến Sĩ, Hội Nhảy Dù, Biệt Dộng Quân, Hải Quân hay Không quân v.v., trong những năm đầu, những hội đoàn quân đội hoạt động rất mạnh. Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh, lễ tưởng niệm quân binh chủng, Thánh Tổ và ngày Tết trở thành những nghi lễ tập thể, quy tụ hàng trăm, hàng ngàn người. Quân phục chỉnh tề, cấp bậc giữ nguyên, nghi thức chào cờ, mặc niệm đều được cử hành nghiêm cẩn. Trong không gian lưu vong, những hội đoàn này vận hành như “đơn vị biểu tượng”, nơi quyền uy không đến từ bầu phiếu, mà từ thâm niên, cấp bậc và sự thừa nhận chung của chiến hữu, đồng đội.

Ngay từ ban đầu, quý vị tiền bối niên trưởng cũng hiểu rằng quyền lực biểu tượng chỉ có giá trị khi tiết chế. Dù được đàn em kính trọng tuyệt đối, họ ít khi mang lon hay phô bày quân hàm trong sinh hoạt cộng đồng. Sự kính trọng đến từ nhân cách, từ quá trình phục vụ, và từ tình huynh đệ chi binh trong cùng một số phận lịch sử. Hơn thế nữa, các sĩ quan cao cấp chủ động lui vào hậu trường khi tuổi đời chồng chất, nhường việc điều hành cho đám trẻ hơn, năng động hơn. Đó là sự rút lui có ý thức, xuất phát từ trách nhiệm chứ không phải từ buông xuôi.

Nhưng thời gian thì không chờ ai. Sau gần nửa thế kỷ, ngay cả quân nhân trẻ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa nay cũng xấp xỉ bảy mươi tuổi. Việc tìm người đủ sức gánh vác vai trò điều hành hội đã khó, việc duy trì sinh hoạt với số hội viên ngày càng ít càng khó hơn. Mấy hội đoàn không chỉ phải gìn giữ truyền thống quân đội với tín niệm không thay đổ từ lúc thành lập quân đội Cộng Hòa là Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm mà còn phải giữ bản sắc riêng của từng quân binh chủng. Suy yếu và phân hóa, vì vậy, không phải là thất bại đạo đức, mà là hệ quả tự nhiên của mô hình được xây dựng cho một thời điểm lịch sử khác.

 

Trong hoàn cảnh đó lại nổi lên một nguồn lực mới, nhưng thường dễ bị đánh giá thấp: những thanh thiếu nhi không có cha mẹ hay người thân từng phục vụ trong quân đội, nhưng lại say mê truyền thống, tư cách và tinh thần anh dũng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Các em mong muốn đến với hội đoàn quân đội không phải vì huyết thống, mà vì lựa chọn giá trị. Sinh ra và lớn lên ở xứ dân chủ, phát triển, nhiều trong số đó đã thành công trong học vấn, nghề nghiệp và kỹ năng tổ chức. Họ hiểu cộng sản, hiểu sự thật về chiến tranh Việt Nam, đau lòng vì sự thất bại của VNCH và mang đầy kỳ vọng giải thoát dân tộc khỏi chế độ cộng sản dù không mang ký ức chiến tranh cay đắng và rõ rệt như người lớn, nhưng mang năng lực vận hành hiện đại.

 

Từ thực tế đó, cần hình dung một mô hình hội đoàn mới: hội đoàn quân đội như một thiết chế ký ức sống, không cần giữ “truyền thống” một cách cứng nhắc, ngoại trừ những nghi lễ quân cách cần duy trì, nhưng lại có những hoạt động mở rộng về mọi mặt, lôi cuốn và lành mạnh, thiết thực cho xã hội và chính nguốn sống của hội đoàn. Trong mô hình này, thế hệ anh cả giữ vai trò danh dự, (cho đến khi họ còn khả năng), truyền đạt ký ức, chuẩn mực và biểu tượng; trong khi những em trẻ — hậu duệ hay người tự nguyện gắn bó — gánh vác vai trò điều hành, kết nối xã hội và chuyển hóa giá trị. Truyền thống không bị hạ thấp, mà được tiếp tục có ý nghĩa trong bối cảnh mới.

Thật sự đã có những diễn tiến như thế trong một số hội đoàn quân đội, nhưng những tư tưởng thủ cựu cố chấp vẫn còn đâu đó đòi hỏi hội đoàn quân đội phải thuần túy là các cựu quân nhân và nhất là không chấp nhận các hậu duệ làm hội trưởng.

 

Nếu có đủ sự cởi mở và can đảm, người viết bài này mong lắm, biết đâu đó, sẽ tới một ngày có những hậu duệ, ngay cả người chưa từng có mối liên quan đến quân nhân thời trước, điều hành hội đoàn. Khi đó, hội đoàn quân đội không chỉ kéo dài sự hiện diện biểu tượng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mà còn bảo đảm cho ý niệm Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục tồn tại như một hệ giá trị — tồn tại bằng hợp tác, bằng tham gia, và bằng trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp. Không phải để quay lại quá khứ, mà để quá khứ không bị hóa thạch.

 

Quang Nguyên