Liên Hiệp Quốc cử đoàn tới Campuchia tìm hiểu vụ thành viên Việt Tân bị bắt

Nguồn hình ảnh,OHCHR, Các chuyên viên của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đến tỉnh Prey Veng hôm 30/10

Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) hôm 30/10 đã cử một phái đoàn đến tỉnh Prey Veng, Campuchia, để trao đổi với chính quyền địa phương nhằm tìm hiểu về vụ thành viên Việt Tân bị công an Việt Nam bắt giữ.

Đã một tháng rưỡi kể từ khi Bộ Công an Việt Nam công bố bắt giữ công dân Úc Trần Hiệp và công dân Na Uy Nguyễn Đức Thuận, hai thành viên của tổ chức Việt Tân, với cáo buộc họ nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

Gia đình hai ông cùng những người ủng hộ tin rằng họ đã bị các đặc vụ bắt cóc tại Campuchia rồi đưa về Việt Nam.

“OHCHR cảm ơn chính quyền địa phương đã hợp tác, cởi mở trong đối thoại và chia sẻ thông tin, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiến hành một cuộc điều tra nhanh chóng, toàn diện và hiệu quả nhằm làm sáng tỏ sự việc,” OHCHR chia sẻ trên trang Facebook chính thức.

Cán bộ lãnh sự Na Uy và Úc đã tới thăm hai ông tại Trại tạm giam B34 vào các hôm 15 và 16/10.

Trong cuộc gặp nói trên với đại diện lãnh sự Úc, ông Hiệp đã nhờ chuyển thông điệp tới gia đình rằng ông “chưa bao giờ tự mình nhập cảnh vào Việt Nam ” và rằng ông đang bị “chấn thương tâm lý” do vụ việc này.

Trong khi đó, ông Thuận cho phía lãnh sự Na Uy hay rằng ông không được tiêm insulin dù đang mắc bệnh tiểu đường, cũng không được hỗ trợ pháp lý. Dù vậy, ông được uống thuốc điều trị tiểu đường dạng viên và nói rằng sức khỏe được cải thiện.

Theo thông tin từ kênh truyền hình TV 2 của Na Uy, giới chức nước này đang thu xếp để thực hiện một chuyến thăm khác trong thời gian tới.

Một số cuộc biểu tình đã được những người ủng hộ hai ông Trần Hiệp và Nguyễn Đức Thuận tổ chức tại Úc và Na Uy trong thời gian qua để kêu gọi chính quyền tích cực hơn trong việc vận động Việt Nam trả tự do cho hai ông.

Hôm 30/10, tham gia nhóm những người biểu tình trước Đại sứ quán Việt Nam trên đường Pilestredet ở Oslo, Na Uy, ông Nguyễn Đức Thiện, em trai của ông Nguyễn Đức Thuận, nói với TV 2:

“Thật bất ngờ, số người tham gia đông hơn rất nhiều so với những gì chúng tôi hình dung, cho thấy mức độ quan tâm đối với vụ việc. Chúng tôi hy vọng đây là một thông điệp rõ ràng được gửi đi ngay trước đại sứ quán. Cách họ xử lý vụ việc là không thể chấp nhận được. Họ không tôn trọng luật pháp quốc tế. Chúng tôi không thể chấp nhận điều đó.”

Ông nói thêm rằng ông dự liệu đây sẽ là một cuộc “đấu tranh có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm”.

Ông Thiện cũng là thành viên của Việt Tân.

Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu coi Việt Tân là tổ chức chính trị và được hoạt động công khai, trong khi chính quyền Việt Nam từ lâu đã xếp tổ chức này vào danh sách khủng bố.

Gia đình ông Thuận nói với TV 2 rằng họ bác bỏ những cáo buộc của chính quyền Việt Nam, cho rằng đó là “những câu chuyện và bằng chứng bịa đặt”.

“Việc Liên Hiệp Quốc hiện đang điều tra vụ việc tại Campuchia có ý nghĩa vô cùng lớn đối với chúng tôi. Điều đó cho thấy Liên Hiệp Quốc nghiêm túc xem xét nghi vấn bắt cóc và đang tích cực tìm hiểu vụ việc,” bà Helena Huong Nguyen, người phát ngôn của Việt Tân, nói với TV 2.

Bộ Ngoại giao Na Uy nói “đây là một vụ việc rất nghiêm trọng”.

“Vụ việc được xác định là ưu tiên cao và Bộ đang triển khai nhiều hướng xử lý – chính trị, ngoại giao và lãnh sự – nhằm giải quyết vấn đề. Chúng tôi cũng duy trì liên hệ chặt chẽ với chính quyền Úc và gia đình ông Nguyễn Đức Thuận,” bà Guri Solberg, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Na Uy, được TV 2 dẫn lời cho hay.

Các tổ chức nhân quyền, trong đó có Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), Tổ chức Thế giới Chống Tra tấn (OMCT) và Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền (FIDH), tiếp tục gây sức ép, kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho hai ông, đồng thời nêu quan ngại về cáo buộc cưỡng bức mất tích, giam giữ tùy tiện và đàn áp xuyên biên giới.

Nguồn hình ảnh,Việt Tân/Getty Images, Ông Nguyễn Đức Thuận (trái) và ông Trần Hiệp

Vụ bắt giữ được biết đến rộng rãi vào hôm 25/9, khi tổ chức Việt Tân phát đi thông cáo về việc hai thành viên là ông Trần Hiệp và ông Nguyễn Đức Thuận “mất tích tại Campuchia”.

Đến ngày 28/9, Bộ Công an Việt Nam thông báo về việc ông Hiệp, ông Thuận và một người nữa là Thái Công Trương Sơn đã bị bắt khi “nhập cảnh trái phép vào Việt Nam” tại Cửa khẩu Mỹ Quý Tây vào ngày 18/9.

Cả ba đã bị khởi tố để điều tra về tội “Khủng bố” theo quy định tại khoản 2 Điều 299 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Cũng theo Bộ Công an, cả ba ông “đã khai nhận là thành viên của tổ chức khủng bố ‘Việt Tân’, mang theo giấy tờ giả nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại”.

Tổ chức Việt Tân và gia đình hai ông Hiệp và Thuận đã bác bỏ các cáo buộc nói trên.

Việt Tân cũng xác nhận ông Hiệp và ông Thuận là thành viên của mình, trong khi nói đang tìm hiểu thêm về trường hợp ông Sơn.

Trong hai cuộc trả lời phỏng vấn riêng biệt với BBC News Tiếng Việt hôm 29/9, đại diện Việt Tân là ông Nguyễn Phong và vợ ông Trần Hiệp là bà Chloe Đặng đều cho hay cả hai ông không hề có ý định sang Việt Nam.

Theo đó, lịch trình của hai ông là bay từ Thái Lan sang Campuchia công tác từ ngày 15-18/9, sau đó bay về Bangkok vào ngày 19/9. Ông Nguyễn Phong nhận định rằng việc bắt giữ những người này “do những người chuyên nghiệp” thực hiện và gọi đây là hành vi “bắt cóc bên ngoài lãnh thổ Việt Nam”.

Hôm 7/10, Bộ Nội vụ Campuchia đã phát đi thông cáo phủ nhận việc giới chức nước này đã bắt giữ và bàn giao ông Trần Hiệp và ông Nguyễn Đức Thuận cho chính quyền Việt Nam.

BBC (04.11.2026)

 

 

 

Công an đông, mức phạt cao, phá án nhanh: Tại sao người dân vẫn bất an, tương lai ngày càng mịt mù  

Không gian mạng bị siết chặt: Phản ánh bất cập cũng phải lo bị quy chụp?

Không gian mạng là nơi người dân phản ánh những vấn đề trong đời sống, chia sẻ thông tin, tranh luận về chính sách và lên tiếng trước những điều họ cho là bất hợp lý.

Tất nhiên, không gian mạng cũng có tin giả, vu khống, lừa đảo, kích động bạo lực và nhiều hành vi gây hại cần được xử lý. Nhưng xử lý hành vi vi phạm pháp luật là một chuyện; đánh đồng mọi ý kiến trái chiều với hành vi chống đối lại là chuyện hoàn toàn khác.

Một người chỉ ra bất cập trong quy hoạch không mặc nhiên là người chống phá. Một người phê bình chính sách kinh tế không mặc nhiên có động cơ thù địch. Một người không đồng tình với cách quản lý cũng không vì thế mà mất quyền được trình bày quan điểm của mình trong khuôn khổ pháp luật.

Những ý kiến đó có thể đúng hoặc sai, có thể cần kiểm chứng, nhưng phải được xem xét dựa trên nội dung, chứng cứ và hành vi cụ thể.

Nếu người dân luôn phải cân nhắc liệu việc nói ra một vấn đề có thể khiến mình bị gán nhãn chính trị hay không, không gian đối thoại sẽ dần thu hẹp. Người ta có thể chọn im lặng vì cho rằng lên tiếng không đem lại kết quả hoặc có thể tạo ra rủi ro cho bản thân.

Đáng lo ngại là sự im lặng ấy có thể bị hiểu nhầm thành sự đồng thuận.

Một bộ máy quản lý muốn hoạt động hiệu quả phải có khả năng tiếp nhận thông tin bất lợi, lắng nghe phản biện và phát hiện những sai sót trong chính sách. Nếu chỉ những tiếng nói thuận chiều mới được tiếp nhận, những vấn đề cần giải quyết có thể bị che khuất.

Việc xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng cần được đánh giá dựa trên nhiệm vụ cụ thể, thẩm quyền, cơ chế giám sát và kết quả thực tế. Bảo vệ hệ thống thông tin, chống lừa đảo và ngăn chặn các cuộc tấn công mạng là những nhu cầu chính đáng. Nhưng quyền lực thực thi phải đi cùng trách nhiệm giải trình và những giới hạn rõ ràng.

Một xã hội vững mạnh không phải là xã hội không có người phản đối. Đó là xã hội đủ năng lực phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật và những lời phản biện có căn cứ, kể cả khi những lời ấy khiến người quản lý không dễ chịu.

Nếu mọi bất bình đều bị nhìn nhận trước hết như một mối đe dọa, người quản lý có thể mất đi nguồn thông tin quan trọng nhất để hiểu xã hội đang thực sự gặp vấn đề gì. 

 

Có một nghịch lý cay đắng: Đất nước là của mình, nhưng người dân ngày càng khó làm chủ cuộc sống

Trong những câu chuyện về thời Pháp thuộc và thời Nhật chiếm đóng, người ta thường nhắc đến sự mất mát chủ quyền và nỗi đau của một dân tộc phải sống dưới ách ngoại bang.

Bối cảnh lịch sử ấy khác hoàn toàn với những vấn đề kinh tế, đất đai và quản trị xã hội hiện nay. Nhưng khi đặt câu chuyện về quê hương cạnh thực tế đời sống, một câu hỏi khác xuất hiện: liệu một người có thể cảm thấy mình đang mất dần quyền làm chủ cuộc sống ngay trên chính mảnh đất nơi mình sinh ra?

Hãy nhìn vào những người lao động phải dành phần lớn thu nhập để trả tiền thuê nhà. Những người trẻ làm việc nhiều năm vẫn không đủ tiền mua một căn hộ. Những gia đình phải rời nơi ở quen thuộc vì các dự án phát triển. Những hộ kinh doanh lo lắng trước những thay đổi chính sách mà họ khó dự đoán. Những người muốn phản ánh bất cập nhưng không tin rằng tiếng nói của mình sẽ được lắng nghe.

Họ có thể vẫn sống trên quê hương mình, vẫn làm việc, đóng góp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Nhưng cảm giác làm chủ cuộc sống sẽ bị tổn thương nếu họ không còn khả năng quyết định những vấn đề thiết thân như nơi ở, sinh kế và tương lai của gia đình.

Đất đai không chỉ là tài sản. Nó còn là nơi tổ tiên sinh sống, nơi cộng đồng hình thành, nơi lưu giữ ký ức và là nền tảng để các thế hệ xây dựng cuộc sống.

Một đất nước có chủ quyền không có nghĩa là mọi người dân tự động có được một cuộc sống ổn định. Chủ quyền quốc gia và chất lượng cuộc sống là hai vấn đề khác nhau, nhưng một nhà nước có trách nhiệm phải tìm cách bảo đảm rằng thành quả phát triển thực sự cải thiện điều kiện sống của nhân dân.

Nếu người dân ngày càng khó an cư, khó tích lũy, khó tìm thấy cơ hội phát triển và khó cảm thấy tiếng nói của mình có giá trị, thì không thể chỉ trả lời bằng những khẩu hiệu về thành tựu chung.

Người dân cần được thấy rằng họ không chỉ có nghĩa vụ chấp hành và đóng góp. Họ còn có quyền được bảo vệ, được lắng nghe và được hưởng thành quả phát triển bằng chính công sức lao động của mình. 

 

Một xã hội vừa bất bình, vừa sợ hãi: Sự im lặng không có nghĩa là mọi chuyện đều ổn

Nỗi bất an của con người không chỉ đến từ nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm.

Đó còn là nỗi lo mất việc, không đủ tiền nuôi gia đình, không thể mua nhà, gặp rủi ro pháp lý khi kinh doanh, chịu thiệt thòi trong một tranh chấp hoặc không biết tìm đến đâu khi quyền lợi của mình bị xâm phạm.

Khi những nỗi lo ấy xuất hiện cùng lúc, con người dễ rơi vào tâm thế phòng thủ. Họ không còn nghĩ nhiều đến việc xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, mà chủ yếu tìm cách tránh rủi ro, giữ lấy những gì đang có và hạn chế những quyết định có thể khiến cuộc sống khó khăn hơn.

Một người có thể im lặng trước điều mình không đồng tình vì không muốn gặp phiền phức. Một người kinh doanh có thể từ bỏ kế hoạch mở rộng vì lo ngại những rủi ro khó dự đoán. Một người trẻ có thể từ bỏ giấc mơ mua nhà vì cho rằng mục tiêu ấy quá xa vời.

Nhưng không thể lấy sự im lặng làm bằng chứng rằng người dân hài lòng. Cũng không thể lấy việc xã hội chưa xảy ra phản ứng công khai làm bằng chứng rằng mọi vấn đề đã được giải quyết.

Cần thận trọng khi đánh giá tâm trạng của toàn xã hội, bởi mỗi người có hoàn cảnh và trải nghiệm khác nhau. Tuy nhiên, những bất cập được phản ánh lặp đi lặp lại về an ninh, việc làm, nhà ở, tính công bằng và quyền phản ánh đều xứng đáng được xem xét bằng dữ liệu và đối thoại thực chất.

Một xã hội có thể duy trì vẻ ngoài trật tự nhưng vẫn tích tụ nhiều bất bình chưa được giải quyết.

Nếu người dân cảm thấy không có kênh phản ánh hiệu quả, không tin rằng khiếu nại sẽ đem lại kết quả hoặc lo rằng việc lên tiếng sẽ khiến mình gặp thêm rắc rối, họ có thể chọn cách im lặng. Khi ấy, vấn đề không biến mất; chỉ có điều nhà quản lý khó nhìn thấy nó hơn.

Một xã hội lành mạnh không phải là xã hội không có bất đồng. Đó là xã hội có khả năng giải quyết bất đồng bằng chứng cứ, đối thoại, trách nhiệm và công lý.

 

Muốn dân an tâm, đừng chỉ tăng kiểm soát: Hãy chứng minh rằng bộ máy thực sự phục vụ dân

Nếu mục tiêu là xây dựng một xã hội an toàn hơn, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả quản lý.

Đối với an ninh công cộng, cần công khai những chỉ số có ý nghĩa thực tế: thời gian tiếp nhận và phản ứng với tin báo khẩn cấp, hiệu quả phòng ngừa, khả năng bảo vệ nạn nhân và trách nhiệm khi xảy ra sai sót. Không thể chỉ báo cáo số vụ án đã phá mà bỏ qua câu hỏi liệu những nguy cơ có thể phòng tránh đã được xử lý hay chưa.

Đối với xử phạt, cần bảo đảm quy định rõ ràng, thực thi nhất quán, chứng cứ minh bạch và quyền khiếu nại thực chất. Mục tiêu phải là giảm vi phạm và bảo vệ cộng đồng, chứ không phải chỉ làm cho chế tài ngày càng nặng.

Đối với kinh tế, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp chân chính tồn tại, người lao động cải thiện thu nhập và người trẻ có cơ hội khởi nghiệp. Chính sách quản lý phải phân biệt giữa hành vi gian lận có chủ ý và những thiếu sót có thể khắc phục, đồng thời tránh tạo ra những rủi ro không cần thiết cho hoạt động kinh doanh hợp pháp.

Đối với nhà ở và đất đai, cần quy hoạch minh bạch, đánh giá tác động môi trường nghiêm túc, bảo vệ di sản và bảo đảm quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng. Phát triển không thể chỉ được đo bằng diện tích đất chuyển đổi, số dự án được phê duyệt hay số tiền thu được.

Đối với công lý, cần bảo đảm mọi người bình đẳng trước pháp luật, không để chức vụ hay quan hệ trở thành lợi thế né tránh trách nhiệm. Những quyết định gây tranh cãi phải có căn cứ và được giải thích đủ rõ để công chúng có thể kiểm chứng.

Đối với không gian mạng, cần phân biệt rõ giữa hành vi vi phạm pháp luật với việc phản biện chính sách. Một bộ máy tự tin vào tính chính đáng của mình phải có khả năng tiếp nhận những lời phê bình có căn cứ và sửa chữa những sai sót được chỉ ra.

Những điều ấy không làm suy yếu kỷ cương. Ngược lại, chúng giúp kỷ cương có nền tảng vững chắc hơn, bởi người dân hiểu rằng pháp luật không chỉ là công cụ buộc họ phải tuân thủ, mà còn là cơ chế bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ. 

 

KẾT LUẬN: ĐỪNG HỎI CÔNG AN ĐÔNG BAO NHIÊU, HÃY HỎI NGƯỜI DÂN ĐƯỢC BẢO VỆ ĐẾN ĐÂU

Công an đông hay ít không phải là câu trả lời cuối cùng. Mức phạt cao hay thấp cũng không phải thước đo duy nhất. Điều cần được làm rõ là bộ máy có thực sự bảo vệ được tính mạng, tài sản và quyền lợi hợp pháp của người dân hay không; có ngăn chặn được nguy hiểm hay chỉ xử lý sau khi hậu quả xảy ra; có tạo ra một môi trường sống công bằng, ổn định và đáng tin cậy hay không.

Nếu người dân cảm thấy lực lượng kiểm soát hiện diện khắp nơi nhưng vẫn lo lắng khi đối mặt với nguy hiểm, câu hỏi về hiệu quả bảo vệ phải được trả lời bằng dữ liệu và trách nhiệm cụ thể.

Nếu người trẻ làm việc chăm chỉ nhưng không nhìn thấy con đường an cư, câu hỏi về chất lượng tăng trưởng không thể bị thay thế bằng những khẩu hiệu chung chung.

Nếu người dân nghi ngờ pháp luật được áp dụng khác nhau giữa người có quyền lực và người bình thường, câu trả lời phải là sự minh bạch và công bằng có thể kiểm chứng.

Nếu người dân lo ngại việc phản ánh bất cập sẽ khiến mình gặp rắc rối, cần xem xét lại cách thực thi pháp luật và những cơ chế bảo đảm quyền phản ánh chính đáng.

Không thể quy mọi vấn đề của xã hội về một nguyên nhân duy nhất. Tội phạm, khó khăn kinh tế, khủng hoảng nhà ở và niềm tin vào thể chế đều cần được phân tích bằng những chứng cứ phù hợp. Nhưng cũng không thể tách rời chúng khi đánh giá cảm giác an toàn của người dân.

Một đất nước không thể chỉ đo sự an toàn bằng số người bị bắt, số khoản phạt được thu hay mức độ kiểm soát của bộ máy. Phải đo bằng việc người dân có được bảo vệ khi gặp nguy hiểm, có thể sống bằng công sức lao động của mình, có cơ hội an cư và có thể lên tiếng về những bất cập mà không phải sống trong nỗi lo thường trực hay không.

Người dân không cần một xã hội chỉ có vẻ yên ổn vì ai cũng ngại lên tiếng. Họ cần một xã hội trong đó tội phạm được ngăn chặn, pháp luật công bằng, người làm ăn chân chính được bảo vệ, người trẻ có tương lai và những quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ được đưa ra một cách minh bạch.

Bởi điều đáng sợ không chỉ là một vụ án giết người xảy ra giữa ban ngày. Điều đáng sợ hơn là khi người dân dần mất niềm tin rằng họ sẽ được bảo vệ; khi người trẻ không còn tin lao động sẽ đem lại tương lai; khi người làm ăn luôn lo lắng trước những rủi ro khó lường; và khi sự im lặng bị nhầm tưởng là đồng thuận.

Một bộ máy công quyền thực sự mạnh không chỉ thể hiện khả năng kiểm soát xã hội. Nó còn phải có khả năng tự sửa sai, chịu trách nhiệm, bảo vệ người yếu thế và chứng minh rằng quyền lực được sử dụng vì lợi ích công cộng.

Công an đông mà dân vẫn bất an, đó là câu hỏi về hiệu quả bảo vệ. Pháp luật nghiêm mà dân vẫn nghi ngờ công lý, đó là câu hỏi về sự công bằng. Đất nước phát triển mà người trẻ vẫn mất hy vọng, đó là câu hỏi về chất lượng phát triển.

Ba câu hỏi ấy không thể được giải quyết bằng cách yêu cầu người dân im lặng hoặc chỉ nhấn mạnh rằng họ phải chấp hành. Chúng đòi hỏi những câu trả lời cụ thể, những thay đổi có thể kiểm chứng và trách nhiệm rõ ràng từ những người nắm quyền quản lý.

Bởi cuối cùng, mục đích của quản lý xã hội không phải là khiến người dân sợ hãi trước bộ máy, mà là để người dân có thể sống an toàn, làm việc lương thiện, được đối xử công bằng và nhìn về tương lai mà không đánh mất niềm tin vào chính quê hương mình.

Bất Đồng Tiên Sinh

VNTB (03.11.2026)

 

 

Chính quyền siết ‘Luật thực hiện dân chủ’ trong bối cảnh tranh chấp đất đai gia tăng

Công an đang triển khai nhằm hạn chế người dân biểu tình ở Hà Nội trong ngày 09/12/2012 (AP/AP)

Dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) đang được Quốc hội khóa XVI xem xét với chủ trương tinh giản đáng kể các quy định hiện hành, đồng thời trao thêm thẩm quyền cho Chính phủ hướng dẫn thực thi.

Một luật sư trao đổi với RFA cho rằng dự thảo đặt ra nhiều câu hỏi về cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, tham gia quyết định, giám sát của người dân và trách nhiệm công khai, giải trình của chính quyền địa phương. Nếu được thông qua, việc thực thi quyền dân chủ sẽ phụ thuộc đáng kể vào các văn bản dưới luật.

Giữa làn sóng các cuộc biểu tình phản đối quy hoạch đất đai và xây dựng của người dân và làn sóng phản đối dự luật Hiến tạng trẻ em dưới 18 tuổi đang diễn ra ngày càng nhiều, chính quyền Việt Nam lại đang làm ngược lại – rút gọn Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và tiếp tục trì hoãn thông qua Luật Biểu tình dù đã 13 năm trôi qua vì lý do “nhạy cảm”.

Theo thông tin công bố tại Quốc hội vào tháng 9, dự thảo Luật Thực hiện dân chủ được rút từ 91 xuống 61 điều. Đến ngày 31/10, phiên bản dự thảo được công khai trên trang Dự thảo Online có 62 điều.

Trao đổi cùng với luật sư, RFA ghi nhận một số thay đổi đáng chú ý như sau:

 

Bỏ thời hạn công khai và phản hồi: Người dân giám sát bằng gì?

Theo Điều 13 Luật Dân chủ năm 2022, nhiều loại thông tin phải được chính quyền cấp xã niêm yết công khai ít nhất 30 ngày liên tục. Tuy nhiên, Điều 12 dự thảo không còn quy định thời hạn niêm yết tối thiểu này, thay vào đó giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết việc lựa chọn hình thức và tổ chức công khai.

Tương tự, Điều 40 luật hiện hành yêu cầu UBND cấp xã thông báo kết quả giải quyết kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân trong thời hạn 15 ngày. Trong khi đó, Điều 25 dự thảo mới chỉ yêu cầu giải quyết “kịp thời” mà không xác định thời hạn cụ thể.

Về pháp lý, sự khác biệt giữa một thời hạn bắt buộc và yêu cầu giải quyết “kịp thời” không chỉ nằm ở câu chữ.

Mà là người dân, thông qua Ban Thanh tra nhân dân, có ít cơ sở trực tiếp hơn để xác định việc chính quyền chậm trả lời có vi phạm thời hạn hay không.

Hệ quả pháp lý có thể là, theo vị luật sư, “nếu nghị định sau này không duy trì thời hạn đủ dài, người dân có thể khó tiếp cận, kiểm tra thông tin về ngân sách, đất đai và dự án”.

Điều này xảy ra ngay trong thời điểm nhiều diễn biến bất cập liên quan tới việc công bố thông tin các dự án chỉnh trang đô thị đang vấp phải nhiều vấn đề về thời hạn công khai thông tin tới người dân chậm trễ.

Điển hình có thể kể đến như đề xuất xây dựng Safari Ba Vì — trước khi chính quyền lên tiếng họp mặt, người dân ở đây hoàn toàn không được biết gì về dự án này.

Người dân ở Vĩnh Hưng cũng đang gặp một tình trạng tương tự khi ngôi nhà của họ đã được giao cho Sun Group xây khu đô thị trước khi họ được biết thông tin một cách công khai và đầy đủ.

Tuy nhiên, theo quan sát của RFA, các thủ tục lấy ý kiến lại diễn ra rất nhanh và không công bố thời hạn phản hồi người dân là khi nào.

 

Mở rộng nhưng kiểm soát quyền phản biện trên không gian số

Nhiều thủ tục tổ chức họp dân, phát phiếu lấy ý kiến và đối thoại trước khi ban hành quyết định hành chính được chuyển sang Chính phủ quy định. Cách tiếp cận này có thể giúp đơn giản hóa thủ tục, nhưng cũng khiến việc thực hiện quyền dân chủ phụ thuộc nhiều hơn vào các văn bản dưới luật.

Ở chiều ngược lại, dự thảo bổ sung quyền tương tác, giám sát và phản biện trên nền tảng số; mở rộng một số nội dung phải lấy ý kiến người dân liên quan đến đất đai, môi trường và các dự án ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng. Nghĩa vụ giải trình khi quyết định khác với ý kiến đa số cũng tiếp tục được duy trì.

Dù vậy, Điều 60 dự thảo còn quy định trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng số và viễn thông trong việc gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Theo vị luật sư trao đổi cùng RFA, cử tri cần đặt ra yêu cầu làm rõ tiêu chí xác định vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền phản ánh, phê bình hợp pháp của công dân.

Vị luật sư nhận định, về nguyên tắc, tinh giản pháp luật không đồng nghĩa với cắt giảm quyền dân chủ.

Tuy nhiên, hiệu quả thực thi quyền công dân phải được đánh giá bằng những bảo đảm pháp lý cụ thể: người dân được biết những gì, có bao lâu để tham gia ý kiến, chính quyền phải phản hồi khi nào và chịu trách nhiệm ra sao nếu không thực hiện.

Đó cũng là những vấn đề cần được làm rõ trước khi dự thảo được thông qua vào tháng 11 năm nay.

 

Bổ sung sự lãnh đạo của Đảng ở Điều 3

Trong dự thảo luật lần này, tại khoản 2 Điều 3 về Nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cơ sở đã bổ sung thêm việc cần phải đảm bảo vai trò thực thi dân chủ của “các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở”.

Việc bổ sung các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ vào nguyên tắc thực hiện dân chủ đặt ra vấn đề pháp lý về tính đại diện và trách nhiệm giải trình.

Vị luật sư nhấn mạnh, nếu luật không xác định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ chuyển tải ý kiến và cơ chế xử lý khi kiến nghị bị bỏ qua, người dân sẽ khó xác định chủ thể chịu trách nhiệm.

“Hệ quả là quyền tham gia và giám sát của công dân có nguy cơ thiếu cơ chế bảo vệ thực chất,” vị luật sư nói.

 

Về Luật Biểu tình của Việt Nam

Mặc dù Điều 25 Hiến pháp 2013 đã công nhận quyền biểu tình của công dân, đến nay Việt Nam vẫn thiếu một đạo luật chuyên biệt quy định trình tự thực hiện, trách nhiệm bảo vệ người biểu tình ôn hòa và cơ chế xử lý khi quyền này bị xâm phạm.

Khoảng trống pháp lý kéo dài này đặt ra câu hỏi về việc bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền tự do dân chủ đã được Hiến pháp ghi nhận, đặc biệt là quyền công khai bày tỏ chính kiến và phản đối những chính sách ảnh hưởng đến lợi ích của người dân.

Kỳ họp Quốc hội lần thứ 2, phiên thứ nhất đã sắp khép lại, nhưng không một cử tri nào lên tiếng về việc cần phải xem xét lại Luật Biểu tình, cũng như các điểm bất cập của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Stella Ho

RFA (01.11.2026)

 

 

 

THƯ VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ: Về Việc Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Chế Tài Đối Với Các Vi Phạm Nhân Quyền Trầm Trọng Tại Việt Nam

Kính gửi:

  • Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc; Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền; Chủ tịch và các thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.
  • Liên minh châu Âu, Nghị viện châu Âu; Khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc gia thành viên.
  • Quý vị Tổng thống, Thủ tướng, Nghị viện các quốc gia dân chủ, tự do và trung lập; Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), Ủy ban Nobel Na Uy, Tòa Thánh Vatican, các tổ chức quốc tế, liên chính phủ, phi chính phủ và các cơ quan truyền thông quốc tế.
  • Tổ chức Giám sát Quyền của Giới Luật sư Canada (Lawyers’ Rights Watch Canada); Ủy ban Luật gia Quốc tế (International Commission of Jurists); Viện Nhân quyền thuộc Hiệp hội Luật sư Quốc tế (International Bar Association’s Human Rights Institute); Tổ chức Luật sư vì Luật sư (Lawyers for Lawyers).
  • Các tổ chức xã hội dân sự, giới luật gia, học giả, các cộng đồng tôn giáo và công dân trên toàn thế giới cam kết bảo vệ hòa bình, nhân quyền, tự do, dân chủ, công lý và Nhà nước pháp quyền.

Chúng tôi, các tổ chức xã hội dân sự và cá nhân ký tên dưới đây, xin gửi lời chào trân trọng và khẩn thiết kêu gọi sự can thiệp mạnh mẽ, quyết liệt từ Quý cơ quan trước tình trạng trấn áp quyền con người ngày càng khốc liệt và mang tính hệ thống tại Việt Nam.

 

  1. Bối cảnh diễn biến và lập trường thực tế

Trong chuyến hội đàm chính thức với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 19 đến 24 tháng 10 năm 2026, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) cùng 12 tổ chức quốc tế đã đồng loạt yêu cầu lãnh đạo EU, Đan Mạch và Bỉ phải đưa vấn đề nhân quyền làm trọng tâm đàm phán, đòi tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị và dân oan.

Dù các lãnh đạo châu Âu đã đề cập đến nhân quyền trong khuôn khổ đối thoại song phương, chúng tôi vô cùng lấy làm tiếc khi phía châu Âu đã không đưa ra một yêu cầu đanh thép mang tính công khai (public demand) nhằm đòi hỏi trả tự do cho toàn bộ danh sách tù nhân như các tổ chức xã hội dân sự kỳ vọng. Sự thiếu kiên quyết này vô tình làm giảm đi áp lực quốc tế cần có đối với một chính quyền liên tục vi phạm các cam kết quốc tế.

  1. Bản chất ngụy biện của chính quyền Việt Nam trước luật pháp quốc tế (Giữ nguyên nội dung gốc)

Tại các diễn đàn quốc tế, chính quyền Việt Nam luôn lập đi lập lại luận điệu tráo trở cho rằng “nhà nước luôn tôn trọng, bảo vệ các quyền con người theo đúng quy định của Hiến pháp” và bác bỏ các cáo buộc khi khẳng định “không có tù nhân lương tâm, chỉ có người vi phạm pháp luật và bị xét xử theo đúng trình tự tư pháp của một quốc gia độc lập có chủ quyền”, đồng thời luôn bác bỏ mạnh mẽ các báo cáo, cáo buộc từ phía HRW và các tổ chức phi chính phủ khác. Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định các nội dung này là “sai sự thật, bịa đặt, thiếu khách quan và có dụng ý xấu” nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Chúng tôi khẳng định đây là những lời tuyên bố ngụy biện và dối trá nhằm đánh lừa dư luận quốc tế, bởi thực tế hoàn toàn trái ngược:

  • Tình trạng giam cầm và đàn áp trầm trọng: Việt Nam hiện đang giam giữ ít nhất trên 260 tù nhân chính trị. Chỉ riêng 9 tháng đầu năm 2026, đã có thêm ít nhất 28 nhà hoạt động bị kết án tù. Thực trạng giam cầm tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, dân oan và đàn áp quyền tự do tôn giáo là không thể chối cãi.
  • Vũ khí hóa luật pháp và vi phạm luật quốc tế: Chính quyền liên tục sử dụng các điều luật mơ hồ trong Bộ luật Hình sự (điển hình là Điều 331 về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ” và Điều 117 về “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”) để hình sự hóa các quyền tự do hợp pháp. Hành vi này vi phạm trực tiếp Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và cấu thành sự vi phạm nghiêm trọng đối với Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) mà Việt Nam đã ký kết gia nhập từ năm 1982, cụ thể:
    • Vi phạm Điều 9 (ICCPR): Quyền tự do và an ninh cá nhân. Việc bắt giữ tùy tiện các nhà hoạt động mà không có lý do chính đáng hợp pháp là sự vi phạm trực tiếp điều khoản này.
    • Vi phạm Điều 14 (ICCPR): Quyền được xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập và khách quan. Các phiên tòa xét xử nhà hoạt động tại Việt Nam đều mang tính áp đặt án bỏ túi, thiếu minh bạch.
    • Vi phạm Điều 18 (ICCPR): Quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Việc đàn áp các giáo hội độc lập, ép buộc cải đạo và bắt bớ tín đồ phản ánh sự chà đạp thô bạo lên quyền này.
    • Vi phạm Điều 19 (ICCPR): Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt. Việc hình sự hóa các bài viết, ý kiến phản biện trên mạng xã hội là hành vi triệt tiêu quyền tự do ngôn luận.
    • Vi phạm Điều 21 và 22 (ICCPR): Quyền hội họp hòa bình và tự do lập hội. Chính quyền hoàn toàn cấm đoán các cuộc biểu tình ôn hòa và ngăn chặn sự ra đời của các tổ chức dân sự độc lập.
  • Vi phạm các cam kết thương mại: Việc tiếp tục bắt giữ các nhà hoạt động lao động và môi trường đã vi phạm nghiêm trọng Chương 13 (về Phát triển Bền vững và Cam kết Lao động) của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) ký năm 2020. Theo luật pháp quốc tế, một hiệp định thương mại không thể tách rời các giá trị nền tảng về nhân quyền.
  1. Danh sách các trường hợp khẩn thiết cần bảo vệ

Nhà nước Việt Nam đến nay vẫn hoàn toàn phớt lờ, xem thường sự can thiệp của Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ, EU và các nước tự do dân chủ. Họ tiếp tục duy trì các biện pháp ngăn chặn quyền tự do đi lại và tình trạng trấn áp xuyên quốc gia đối với các nhà báo độc lập, các nhà hoạt động xã hội, tôn giáo và môi trường tiêu biểu, bao gồm: Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Phạm Chí Dũng, Hoàng Thị Minh Hồng, Đặng Đình Bách, cùng nhiều cá nhân khác.

  1. Khuyến nghị và các yêu cầu cốt lõi hướng tới Cộng đồng Quốc tế

Đứng trước việc chính quyền Việt Nam trục lợi từ các lợi ích kinh tế, thương mại nhưng lại “ngồi xổm” lên luật lệ quốc tế, tiếp tục đàn áp, tra tấn và giam cầm các công dân yêu nước, bất chấp các Hiến chương LHQ và các định chế nhân quyền quốc tế, chúng tôi khẩn thiết yêu cầu quốc tế hành động quyết liệt qua các biện pháp sau:

  • Áp dụng Đạo luật Chế tài Nhân quyền Toàn cầu (Đạo luật Magnitsky): Khẩn thiết đề nghị đưa các quan chức, lãnh đạo Việt Nam trực tiếp chỉ đạo và tham gia vào quá trình đàn áp nhân quyền vào danh sách chế tài Magnitsky toàn cầu (phong tỏa tài sản, cấm vận tài chính và cấm nhập cảnh hoàn toàn). Không thể dung tha cho những kẻ chà đạp lên luật pháp quốc tế.
  • Gắn kết chặt chẽ đòn bẩy kinh tế với điều kiện nhân quyền: Không nhân nhượng vì các lợi ích thương mại ngắn hạn. Đề nghị đóng băng các ưu đãi thương mại hiện có và kiên quyết không phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền thực tế.
  • Buộc cải cách luật pháp toàn diện: Yêu cầu Việt Nam chấm dứt ngay việc áp dụng các điều luật mơ hồ (Điều 331, Điều 117 Bộ luật Hình sự) để đàn áp quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo; buộc tuân thủ nghiêm chỉnh các nghĩa vụ theo Công ước ICCPR và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Chấm dứt ngay các hành vi trấn áp xuyên quốc gia và bảo đảm quyền tự do đi lại của công dân.
  • Yêu cầu cải cách lao động: Buộc Việt Nam thực hiện cam kết cho phép thành lập các công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi người lao động theo đúng tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Trả tự do vô điều kiện: Buộc chính quyền phải hành động cụ thể, chấm dứt hành vi lường gạt quốc tế, trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các nhà báo, nhà hoạt động tôn giáo, nhân quyền, xã hội và môi trường tiêu biểu đã nêu trên.

Yêu cầu HRW và các tổ chức phi chính phủ khác khẩn trương tiếp tục vận động:

  • a. Chính phủ các nước tự do và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ không nên vì lợi ích kinh tế/thương mại mà bỏ qua việc xem xét, áp dụng các biện pháp trừng phạt theo Đạo luật Magnitsky (như đóng băng tài sản tại Mỹ và cấm nhập cảnh) đối với các quan chức Việt Nam đồng lõa hoặc trực tiếp tham gia vào việc đàn áp, tra tấn, áp đặt kiểm duyệt mạng, hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo.
  • b. Lưỡng viện Hoa Kỳ không nên vì lợi ích kinh tế/thương mại, hay sử dụng Việt Nam như một công cụ chiến lược để bao vây sự bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc tại Biển Đông, mà không xem xét bổ sung Việt-Nam vào các Nghị quyết của Hạ viện nhằm lên án chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới (gần nhất là Hạ nghị quyết H.Res.1490 vào tháng 9 năm 2026 và trước đó là H.Con.Res.58), bởi Việt Nam hiện đang áp dụng chủ nghĩa cộng sản để tiến lên chế độ chủ nghĩa xã hội.

Cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục dung tha cho những cam kết rỗng trên giấy của một chính quyền liên tục vi phạm các hiến chương quốc tế. Đã đến lúc phải thay thế các cuộc đối thoại ngoại giao kín bằng các biện pháp áp đặt chế tài cụ thể, nghiêm khắc và mạnh mẽ nhất.

Mong lắm thay.

Ngày 28 tháng 10 năm 2026

THAY MẶT NHÓM VẬN ĐỘNG VÌ TỰ DO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN, HÒA BÌNH, AN NINH, CÔNG LÝ VÀ PHÁP QUYỀN TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

(30.10.2026)