Thông tin từ Đài Loan: Tên lửa đạn đạo của Bắc Kinh rơi cách Úc khoảng 3.000 km

Theo tiết lộ của một bộ trưởng Đài Loan, vụ thử tên lửa đạn đạo của Bắc Kinh hôm 6/7 được phóng từ phía đông nam Trung cộng, gần Đài Loan. Tên lửa này đã bay khoảng 6.300 km qua nhiều quốc gia trước khi rơi xuống phía đông nam của đảo quốc Nauru ở Thái Bình Dương.

Ảnh minh họa: Tàu ngầm Trung cộng. (Nguồn: Took-ranch at the English-language Wikipedia, Public domain, qua Wikimedia Commons)

Tên lửa được phóng chỉ vài giờ sau khi Úc ký một thỏa thuận quốc phòng mới với Fiji, một trong những quốc gia phát triển hơn trong khu vực. Theo thỏa thuận, cả hai quốc gia am kết ứng phó với “các mối đe dọa chung” trong khu vực.

Địa điểm rơi của tên lửa chỉ cách Úc khoảng 3.000 km.

Thỏa thuận mới của Úc với Fiji tiếp nối các thỏa thuận của xứ sở Kangaroo với Papua New Guinea, Vanuatu, Tuvalu và Nauru, những quốc gia đã có lập trường an ninh mới trong bối cảnh Đảng Cộng sản Trung Hoa (ĐCSTH) tiếp tục thực hiện sự bành trướng trong khu vực này.

Úc và Fiji ký thỏa thuận liên minh quốc phòng trong bối cảnh TC gia tăng ảnh hưởng ở Thái

Ông Ngô Chiêu Nhiếp (Joseph Wu), tổng thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Đài Loan, đã đăng tải hình ảnh về đường bay của tên lửa. Hình ảnh đăng cho thấy đó là tên lửa đạn đạo liên lục địa JL-2 phóng từ tàu ngầm (SLBM), có tầm bắn khoảng 8.000 – 9.000 km.

Trong một bài đăng trên mạng xã hội X, Bộ trưởng Ngô chỉ trích: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vừa thử nghiệm tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) JL-2 bay qua không phận Phi Luật Tân chỉ cách đây ít phút. Đây là hành động khiêu khích gây bất ổn khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trung cộng lại một lần nữa chứng tỏ mình là kẻ bắt nạt trong khu vực.”

Tên lửa đạn đạo này được phóng từ tàu ngầm Type 094 hoặc tàu ngầm lớp Jin.

Hình ảnh được ông Ngô đăng cũng cho thấy tên lửa này đã bay qua đảo quốc Palau, các vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ là đảo Guam và Quần đảo Bắc Mariana, Liên bang Micronesia, và rơi xuống phía nam đảo quốc Nauru. Tên lửa này mang đầu đạn giả.

Các thiết bị theo dõi vệ tinh hàng hải đã phát hiện sự hiện diện của ba tàu Trung cộng trong khu vực, các tàu này có chức năng theo dõi tên lửa.

Nhà phân tích quốc phòng Linus Cohen thuộc Viện Chính sách Chiến lược Úc cho biết, một “con tàu có hình dáng kỳ lạ” với đầy đủ các loại “ăng-ten, mái vòm bảo vệ radar, và đĩa vệ tinh,” đã xuất hiện tại vùng biển thuộc thủ đô Suva, Fiji.

Trong một bài đăng trên tạp chí Strategist, ông Cohen lưu ý: “Yuan Wang 5 là tàu theo dõi vệ tinh và đo từ xa do Lực lượng Không quân Vũ trụ thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng vận hành, tức lực lượng không gian của Trung cộng. Một trong những nhiệm vụ của nó là giúp xác định mức độ thành công của các vụ thử tên lửa đạn đạo.”

Ông Cohen nhấn mạnh: “Đối với một vụ thử nghiệm tên lửa chiến lược của Trung cộng – tức là loại tên lửa được thiết kế cho cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện – cuộc thử nghiệm tên lửa hôm thứ Hai (6/7) là bất thường vì vũ khí này đã bay một quãng đường khá xa. Tên lửa không bay theo dốc đứng để bảo đảm tên lửa rơi xuống gần khu vực phóng. Thay vào đó, nó đã bay ở góc nông hơn, bình thường hơn. Và tàu Yuan Wang 5 đã có mặt trong dịp này.”

Khu vực Nam Thái Bình Dương đã trở thành điểm nóng cạnh tranh giữa các quốc gia dân chủ và Bắc Kinh.

Theo Daniel Y. Teng / The Epoch Times (08.07.2026)

 

 

Trung cộng thử tên lửa ở Thái Bình Dương vài giờ sau khi liên minh Úc-Fiji được ký kết

Nguồn hình ảnh,Getty Images, Liên minh Đại dương Hòa bình biến Fiji trở thành liên minh chính thức thứ tư của Úc

Trung cộng đã phóng thử một tên lửa đạn đạo tầm xa mang đầu đạn giả ra Thái Bình Dương, chỉ vài giờ sau khi Úc ký hiệp ước quốc phòng mới với Fiji.

Bắc Kinh gọi đây là “một phần thường lệ trong chương trình quân sự hàng năm của Trung cộng”, nhưng vụ phóng đã khiến các nước láng giềng như Nhật Bản, New Zealand và Úc phẫn nộ.

Canberra cáo buộc Trung cộng “gây bất ổn” khu vực – mặc dù các quan chức cho biết họ không tin rằng vụ thử nghiệm là phản ứng đối với thỏa thuận an ninh mới của nước này.

Trong những năm gần đây, Úc đã nỗ lực củng cố quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng Thái Bình Dương để đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng và sự bành trướng quân sự của Trung cộng trong khu vực.

Bắc Kinh đã thông báo cho Canberra về kế hoạch tiến hành thử nghiệm tên lửa vài giờ trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles cho biết tại một cuộc họp báo hôm 6/7.

Ông Marles nói thêm rằng Úc “rất lo ngại về bất kỳ hành động nào làm suy yếu sự ổn định, hòa bình và an ninh của khu vực Thái Bình Dương”.

Các chính phủ trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm New Zealand, Nhật Bản và Papua New Guinea, đã được các quan chức Trung cộng thông báo về ý định tiến hành các cuộc tập trận trên biển của quân đội họ vào hôm 6/7.

Ngoại trưởng New Zealand Winston Peters gọi cuộc thử nghiệm là một “diễn biến không mong muốn và đáng lo ngại”, và chính phủ của ông sẽ thảo luận về vấn đề này với các đối tác Thái Bình Dương.

Nhật Bản cho biết họ đã “mạnh mẽ đề nghị” Trung cộng xem xét lại động thái này sau khi được thông báo về vụ phóng 90 phút trước khi xảy ra.

Trung cộng cho biết cuộc thử nghiệm tên lửa của họ – diễn ra hai năm sau lần thử nghiệm trước đó – là một phần của hoạt động huấn luyện quân sự “thường lệ” và “không nhắm vào bất kỳ quốc gia hoặc mục tiêu cụ thể nào”.

“Hoạt động phóng tên lửa liên quan đã được tiến hành một cách an toàn, có quy định và chuyên nghiệp, và chúng tôi hy vọng rằng một số quốc gia sẽ không diễn giải quá mức về chúng,” người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung cộng Mao Ninh nói sau vụ phóng hôm 6/7.

Phát biểu với các phóng viên tại thủ đô Suva của Fiji, Ngoại trưởng Úc Penny Wong nói vụ thử nghiệm diễn ra “trong bối cảnh Trung cộng đang tăng cường sức mạnh quân sự nhanh chóng” và có nguy cơ “gây bất ổn” khu vực.

Bà Wong có mặt tại thủ đô Fiji khi Úc chính thức ký kết hiệp ước với Fiji, Liên minh Đại dương Hòa bình. Đây là liên minh đầu tiên của Fiji và thứ tư của Úc – sau Hoa Kỳ, New Zealand và Papua New Guinea.

Hiệp ước này sẽ được hỗ trợ từ việc chính phủ Úc chi hơn 1 tỷ đô la trong một thập kỷ cho các biện pháp chống tội phạm xuyên quốc gia, cũng như y tế và cơ sở hạ tầng ở Fiji, Thủ tướng Úc Anthony Albanese tuyên bố.

Khi ký kết thỏa thuận với người đồng cấp Fiji, ông Albanese nói rằng đây là “một trong những nỗ lực quan trọng nhất” mà Canberra đã thực hiện với bất kỳ quốc gia nào.

Thủ tướng Fiji Sitiveni Rabuka đánh giá hiệp ước này là một “khoảnh khắc mang tính bước ngoặt” trong mối quan hệ giữa hai nước và đánh dấu “sự nâng tầm đáng kể trong quan hệ song phương”.

Khi được các phóng viên hỏi liệu ông có dự đoán bất kỳ phản ứng tiêu cực nào từ Bắc Kinh hay không, ông Rabuka nói mình tin rằng Trung cộng sẽ “hoan nghênh sự hợp tác này”.

“Điều này không đe dọa mối quan hệ của Fiji với Trung cộng cũng như mối quan hệ của Úc với Trung cộng”, ông nói trong bài phát biểu được đài truyền hình quốc gia ABC của Úc đưa tin.

Tuần trước, ông Albanese cũng đã ký hiệp ước chiến lược toàn diện đầu tiên của Úc với Vanuatu – sau nhiều tháng đàm phán – trong đó công nhận Úc là đối tác cảnh sát chính của Vanuatu và cấm thành lập bất kỳ căn cứ quân sự nước ngoài nào trên đảo quốc Thái Bình Dương này.

Ông Albanese sẽ tiếp tục chuyến đi Thái Bình Dương của mình vào ngày 7/7 tại Quần đảo Solomon, nơi ông sẽ gặp Thủ tướng Matthew Wale để tiếp tục đàm phán về một hiệp ước mới.

Ông Wale, người được bầu vào tháng Năm, là người từng có quan điểm cứng rắn với Trung cộng và trong nhiều năm qua đã kịch liệt phản đối hiệp ước an ninh mà quần đảo Solomon đã ký với Trung cộng vào năm 2022.

Trong chuyến thăm Úc tháng trước, ông đã nêu lên ý tưởng về một hiệp ước an ninh khu vực.

Helen Livingstone

BBC (06.07.2026)

 

 

 

Trung cộng thử tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm: Nhiều nước lên tiếng phản đối

Trung cộng ngày 6/7 xác nhận đã phóng thử một tên lửa đạn đạo chiến lược từ tàu ngầm hạt nhân ra Thái Bình Dương. Động thái hiếm hoi này ngay lập tức vấp phải phản ứng từ Nhật Bản, Úc, New Zealand, Đài Loan và Mỹ, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tiếp tục gia tăng.

Tàu ngầm Trung cộng (Ngày đăng: 15/8/2007, wikipedia). http://en.wikipedia.org/wiki/File:Chinese_Kilo_in_service.jpg

 

Theo tuyên bố của người phát ngôn Hải quân Trung cộng, Đại tá Vương Học Mãnh, một tàu ngầm hạt nhân của hải quân nước này đã phóng một tên lửa chiến lược mang đầu đạn mô phỏng về phía vùng biển quốc tế trên Thái Bình Dương và “tên lửa đã rơi chính xác xuống khu vực dự kiến”. Bắc Kinh khẳng định đây là hoạt động huấn luyện quân sự thường niên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, đồng thời “không nhằm vào bất kỳ quốc gia hay mục tiêu cụ thể nào”.

Giới phân tích cho rằng tên lửa nhiều khả năng được phóng từ khu vực vịnh Bột Hải ở đông bắc Trung cộng và bay tới Nam Thái Bình Dương. Dữ liệu theo dõi hàng hải cũng cho thấy trước vụ phóng, Trung cộng đã triển khai nhiều tàu theo dõi tại vùng biển giữa Papua New Guinea và Guam để giám sát quỹ đạo bay của tên lửa. Các chuyên gia nhận định loại tên lửa được sử dụng có thể là JL-2 hoặc JL-3, đều là tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm có khả năng mang đầu đạn hạt nhân và tầm bắn hàng nghìn km.

Úc: “Động thái gây mất ổn định”

Ngoại trưởng Úc Penny Wong cho biết Bắc Kinh đã thông báo trước về vụ phóng, song Canberra vẫn phản đối.

“Úc đã nói rõ với Trung cộng rằng chúng tôi cho rằng hành động này sẽ làm mất ổn định khu vực”.

Bà Wong cũng bày tỏ lo ngại trước tốc độ hiện đại hóa quân đội của Trung cộng.

“Chúng tôi quan ngại trong bối cảnh Trung cộng đang mở rộng năng lực quân sự rất nhanh nhưng lại thiếu sự minh bạch cũng như những giải thích đủ sức trấn an khu vực về ý đồ của mình”.

Nhật Bản kêu gọi Trung cộng xem xét lại

Nhật Bản cho biết trước vụ phóng đã nhận được thông báo về khả năng có mảnh vỡ rơi xuống vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Trong tuyên bố chung của Nội các, Tokyo bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” trước việc các hoạt động quân sự của Trung cộng ngày càng gia tăng và “mạnh mẽ thúc giục Trung cộng xem xét lại hành động của mình”.

New Zealand phản đối việc biến Nam Thái Bình Dương thành bãi thử

Ngoại trưởng New Zealand Winston Peters cho biết tên lửa đã rơi xuống khu vực thuộc Vùng phi hạt nhân Nam Thái Bình Dương, được thành lập theo Hiệp ước Rarotonga năm 1986.

Ông nói: “Đây là một diễn biến không được hoan nghênh và đáng lo ngại”.

Ông nhấn mạnh: “Cũng như các nước láng giềng ở Thái Bình Dương, chúng tôi không muốn thấy Trung cộng sử dụng Nam Thái Bình Dương làm nơi thử nghiệm năng lực tên lửa”.

Theo ông Peters:

“Khu vực chúng ta không nên khoanh tay đứng nhìn để những vụ thử như vậy trở thành điều bình thường.”

Đài Loan và Mỹ cũng lên tiếng

Văn phòng lãnh đạo Đài Loan cho rằng vụ thử là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đe dọa cộng đồng quốc tế. Một quan chức an ninh cấp cao của Đài Loan cho biết hòn đảo ghi nhận hoạt động của hải quân Trung cộng gia tăng trong thời gian gần đây, bao gồm cả các cuộc tập trận chung với Nga.

Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ trích vụ phóng phản ánh quá trình mở rộng nhanh chóng kho vũ khí hạt nhân của Trung cộng và tiếp tục kêu gọi Bắc Kinh tăng cường minh bạch cũng như tham gia các cuộc đối thoại về kiểm soát vũ khí.

Thời điểm vụ thử thu hút chú ý

Vụ phóng diễn ra đúng thời điểm Úc và Fiji ký Hiệp ước “Ocean of Peace”, trong đó hai nước cam kết hỗ trợ phòng thủ lẫn nhau nếu một bên bị tấn công. Nhiều nhà phân tích cho rằng thời điểm này khó có thể chỉ là sự trùng hợp.

Chuyên gia Meia Nouwens thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) nhận định vụ phóng có thể nhằm thể hiện sự không hài lòng của Bắc Kinh trước việc Úc mở rộng quan hệ an ninh tại Nam Thái Bình Dương, nhưng cũng cảnh báo động thái này có thể phản tác dụng và làm xấu thêm hình ảnh của Trung cộng trong khu vực.

Theo các chuyên gia, đây là lần hiếm hoi Trung cộng công khai thử tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm ra Thái Bình Dương. Trước đây, Bắc Kinh chủ yếu tiến hành các vụ thử trong lãnh thổ hoặc trên các bãi thử nội địa nhằm tránh gây quan ngại cho các nước láng giềng. Việc lựa chọn phóng ra Thái Bình Dương lần này được xem là một thông điệp thể hiện năng lực răn đe chiến lược của Trung cộng trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực ngày càng căng thẳng.

Trithucvn.net (07.07.2026)

 

 

Biển Đông: Điểm nóng mới trong cạnh tranh Nhật – Trung

Sự quyết đoán của chính quyền Takaichi có thể giúp Tokyo tăng cường năng lực răn đe chiến lược, nhưng cũng kích động thái độ thù địch công khai và hành vi trả đũa từ Bắc Kinh.

Sự quyết đoán của chính quyền Takaichi có thể tăng cường năng lực răn đe chiến lược cho Nhật Bản, nhưng cũng kích động thái độ thù địch công khai và các hành động trả đũa từ Bắc Kinh – (C): Japan Coast Guard/Reuters/JIJI

 

Biển Đông thời Takaichi: Từ kinh tế đến an ninh

Biển Đông (South China Sea) không chỉ là một tuyến đường biển huyết mạch cho thương mại và năng lượng của Nhật Bản mà còn giữ vai trò quan trọng về an ninh. Cụ thể, hơn 80% lượng dầu mỏ nhập khẩu và 45% lượng hàng hóa xuất khẩu của quốc gia này đi qua Biển Đông. Tokyo tin rằng việc để Trung cộng đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông sẽ tạo tiền lệ nguy hiểm, có khả năng đe doạ an ninh Biển Hoa Đông.

Biển Đông còn là địa bàn trọng yếu để Nhật Bản ủng hộ chiến lược “tái cân bằng” (rebalancing) của Washington. Tokyo tự định vị mình là “cường quốc tầm trung then chốt” (pivotal middle power), đóng vai trò hỗ trợ về tài chính, hậu cần và năng lượng cho sự hiện diện của Mỹ tại khu vực, đồng thời kết nối các đồng minh trong hệ thống liên minh của Mỹ (như hình thành trục Nhật – Mỹ – Phi Luật Tân).

Nhiều thập kỷ qua, chính sách của Nhật Bản đối với Biển Đông được gói gọn trong ba trụ cột: hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nâng cao năng lực tuần tra cho các nước Đông Nam Á thông qua việc tặng tàu tuần tra, và ủng hộ các nguyên tắc tự do hàng hải tại các diễn đàn đa phương. Cách tiếp cận gián tiếp này cho phép Tokyo duy trì sự hiện diện nhưng cẩn trọng tránh các bước đi có thể bị Bắc Kinh coi là “can thiệp quân sự”.

Tuy nhiên, bối cảnh địa chính trị cuối năm 2025 đã bẻ gãy hoàn toàn quỹ đạo đó. Sự “trỗi dậy” của Sanae Takaichi – một nhà lãnh đạo quyết đoán và cứng rắn – tạo điều kiện để Nhật Bản thúc đẩy sửa đổi Điều 9 của Hiến pháp Hòa bình nhằm “trở thành cường quốc quân sự bình thường”. Khác với những người tiền nhiệm cố gắng cân bằng giữa an ninh với Mỹ và thương mại với Trung cộng, bà Takaichi đại diện cho một thế hệ chính trị gia Nhật Bản coi việc kiềm chế Bắc Kinh là một nhiệm vụ chiến lược.

Đối với Takaichi, bất kỳ sự gián đoạn nào tại Biển Đông cũng sẽ phá hủy những liên kết kinh tế giữa Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Nhật Bản. Do đó, việc bảo vệ Biển Đông được xem là bảo vệ chuỗi cung ứng kinh tế và an ninh khu vực – cả hai đều có can hệ mật thiết đến lợi ích và an ninh quốc gia của Nhật Bản.

Vấn đề không kém phần quan trọng nữa là chính quyền Takaichi đã lồng ghép an ninh Biển Đông với an ninh eo biển Đài Loan nhằm xác lập một tư thế “răn đe chủ động”.

Về địa chính trị, eo biển Đài Loan kết nối với Biển Đông thông qua eo biển Bashi của Phi Luật Tân. Nếu Trung cộng thiết lập được vùng chống tiếp cận/ chống xâm nhập (A2/AD) tại Biển Đông thông qua việc quân sự hóa các đảo nhân tạo, họ có thể dễ dàng phong tỏa Đài Loan từ phía Nam. Nếu Đài Loan thất thủ, tuyến phòng thủ Chuỗi đảo thứ nhất (First Island Chain) của Nhật Bản kéo dài từ Kyushu qua quần đảo Ryukyu (Okinawa) đến tận Yonaguni sẽ bị phá vỡ. Do đó, việc can dự vào Biển Đông dưới thời Takaichi được coi là một chiến lược “phòng thủ từ xa” – giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng Đài Loan trước khi nó nổ ra.

Sự cứng rắn của Takaichi đã dẫn đến một cuộc đối đầu ngoại giao gay gắt giữa Tokyo và Bắc Kinh. Cuối năm 2025, Trung cộng cảnh báo Nhật Bản không được can thiệp vào “nội bộ” của họ. Chính quyền Takaichi đã đáp trả bằng việc khẳng định lập trường triển khai quân đội để hỗ trợ các đối tác khu vực nếu hiện trạng bị thay đổi bằng vũ lực. Động thái này có thể được xem như sự từ bỏ chính thức tình trạng “mơ hồ chiến lược” mà Tokyo đã duy trì suốt nhiều thập kỷ.

Vì không phải là bên tranh chấp, Nhật Bản không có đòn bẩy về yêu sách lãnh thổ. Do đó, Tokyo nhấn mạnh vào Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), tính thượng tôn của pháp luật và việc giải quyết tranh chấp hòa bình. Bằng cách “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông tại các diễn đàn khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) hay Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Nhật Bản muốn tước đi lợi thế của Trung cộng trong việc đàm phán song phương (vì Bắc Kinh có thể “bắt nạt” các nước nhỏ hơn).

 

Phi Luật Tân: Đối tác quan trọng phía Nam của Tokyo

Những năm gần đây, sự hiện diện của Nhật Bản tại Biển Đông được lồng ghép một cách khéo léo vào một khối an ninh đa phương mới: Trục chiến lược Mỹ – Nhật – Phi Luật Tân (JAPHUS). Nền tảng của trục này là nhận thức chung rằng chỉ riêng Phi Luật Tân sẽ quá yếu để chống lại chiến thuật “vùng xám” (gray zone tactics) của Trung cộng, trong khi Mỹ không thể cáng đáng toàn bộ mặt trận Tây Thái Bình Dương nếu thiếu sự hỗ trợ hậu cần và chia sẻ gánh nặng từ Nhật Bản.

Manila đã vượt qua các đối tác truyền thống Đông Nam Á khác để trở thành đối tác hàng đầu của Tokyo. Điều này được thể hiện rõ thông qua hai công cụ pháp lý và tài chính cốt lõi gồm Hiệp định Tiếp cận Quân sự Tương hỗ (RAA) và Hỗ trợ An ninh Chính thức (OSA).

RAA chính là thỏa thuận gắn kết quân đội Nhật Bản với sườn phía Đông của Biển Đông. Nó tạo cơ sở pháp lý để các chiến đấu cơ F-35 hoặc tàu sân bay trực thăng lớp Izumo của Nhật Bản có thể sử dụng các căn cứ của Phi Luật Tân như Subic hay Basa để tiếp nhiên liệu và tuần tra.

Khác với ODA chỉ dành cho dân sự, OSA được chính quyền Takaichi tận dụng tối đa để tăng khả năng quân sự cho Manila. Nhật Bản đã cung cấp hệ thống radar giám sát ven biển thế hệ mới cho Hải quân Phi Luật Tân, giúp họ phủ sóng theo dõi toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa. Bên cạnh đó, các cuộc đàm phán về việc chuyển giao tàu tuần tra cỡ lớn trang bị vũ khí sát thương đã được đẩy nhanh.

Sự gắn kết giữa Tokyo và Manila còn được thể hiện qua cuộc tập trận chung Balikatan diễn ra từ ngày 20/4 đến 8/5 tại Phi Luật Tân. Trong lịch sử hàng chục năm của Balikatan, Nhật Bản thường chỉ tham gia với tư cách quan sát viên hoặc gửi các đơn vị phi chiến đấu tham gia diễn tập Hỗ trợ Nhân đạo và Giảm nhẹ Thiên tai (HADR).

Sự kiện JSDF gửi các đơn vị chiến đấu tham gia sâu vào cuộc tập trận Balikatan 2026 cùng Mỹ và Phi Luật Tân là kết quả của một quá trình tái cấu trúc tư duy chiến lược, nơi Biển Đông được xem là khu vực chiến lược quyết định sự tồn vong của trật tự an ninh và chuỗi cung ứng thương mại tại Đông Á.

Các đồng minh của Mỹ, dưới sự thúc đẩy của Tokyo, đang “thử nghiệm năng lực tại các điểm nóng châu Á” (testing capabilities in Asia flash points). Nhật Bản mang đến cuộc tập trận các hệ thống tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm Type 88, bố trí tại phía Bắc đảo Luzon, rèn luyện khả năng khóa mục tiêu trên biển. Với Tokyo, hành động phô diễn sức mạnh quân sự tại một điểm nóng ngoài lãnh thổ kể từ sau Thế chiến II là chưa từng có.

Trong chiến lược “Răn đe tích hợp” của Mỹ, việc các đồng minh tự kết nối với nhau (Nhật Bản giúp Phi Luật Tân) giúp Mỹ giảm gánh nặng hỗ trợ từ xa để tập trung vào các rủi ro chiến lược khác. Việc vai trò của JSDF gia tăng cũng làm giảm bớt vai trò của Hải quân Mỹ và tăng khả năng hoạt động quân sự của Nhật Bản.

Đối với JSDF, đây là cơ hội hiếm hoi để họ rèn luyện khả năng phối hợp tương tác (interoperability). Các sĩ quan Nhật Bản học cách chia sẻ dữ liệu mục tiêu thời gian thực với hệ thống chỉ huy của quân đội Mỹ và quân đội Phi Luật Tân trong môi trường bị gây nhiễu điện tử. Đáng chú ý, việc chấp thuận cho JSDF tham gia các kịch bản bắn đạn thật tại Biển Đông đã cho thấy chính quyền Takaichi rất quan ngại về an ninh khu vực.

 

Việt Nam: Đối tác chiến lược về năng lực thực thi pháp luật

Với Nhật Bản, Việt Nam đóng vai trò là “chiếc mỏ neo” ổn định ở vùng biển phía Nam và giúp Tokyo duy trì một nền hòa bình bền vững dựa trên luật lệ. Chính sách của chính quyền Takaichi đối với Việt Nam là một sự đầu tư dài hạn vào “năng lực tự cường” của một quốc gia ven biển, biến Việt Nam thành một nhân tố không thể bị gạt ra ngoài lề trong mọi tính toán an ninh tại Biển Đông.

Trong nhiều thập kỷ, Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam chủ yếu qua vốn ODA cho các dự án hạ tầng. Tuy nhiên, kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện” (tháng 11/2023) và đặc biệt là qua việc xác định an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng là các lĩnh vực ưu tiên chiến lược mới trong chuyến thăm chính thức của bà Takaichi đến Hà Nội vào tháng 5, hai nước có thêm đòn bẩy để tăng cường năng lực tự cường và răn đe trong khu vực.

Công cụ OSA đã trở thành đòn bẩy mới cho phép Nhật Bản cung cấp trực tiếp các thiết bị quốc phòng và an ninh cho Việt Nam. Các hỗ trợ của Nhật Bản gồm: hệ thống radar giám sát bờ biển, công nghệ cảm biến và các thiết bị viễn thông quân sự. Các gói hỗ trợ là minh chứng cho việc Tokyo tin tưởng vào năng lực tự chủ và lập trường kiên định của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền bằng các biện pháp pháp lý và dân sự.

Nhật Bản cũng chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ Việt Nam sử dụng các hệ thống vệ tinh giám sát trái đất (như vệ tinh LOTUSat-1) để quan sát các biến động trên Biển Đông theo thời gian thực. Việc này giúp Việt Nam không bị bất ngờ trước các đợt triển khai quân đội của đối phương và có đủ bằng chứng pháp lý để công bố trước dư luận quốc tế khi xảy ra vi phạm.

Như vậy, sự hỗ trợ từ Nhật Bản giúp Việt Nam hiện đại hóa lực lượng thực thi pháp luật mà không cần phải chọn bên hay tham gia các liên minh quân sự chính thức. Theo đó, Việt Nam tăng cường khả năng giữ vững sự tự chủ chiến lược nhưng vẫn có động lực sắc bén để quyết tâm bảo vệ ngư trường và tài nguyên dầu khí. Khi Việt Nam có đủ khả năng bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình, sức ép rủi ro lên các tuyến thông thương trên biển (SLOCs) của Nhật Bản sẽ giảm đáng kể.

 

Đối mặt với Trung cộng và rủi ro leo thang

Kể từ khi Nhật Bản “xoay trục” chiến lược từ “thận trọng” sang “cứng rắn” dưới thời Takaichi – lãnh đạo theo chủ nghĩa bảo thủ, Trung cộng đã coi sự chuyển dịch này là thách thức đối với nỗ lực thiết lập trật tự khu vực của mình. Bắc Kinh đã phản ứng quyết liệt trên ba mặt trận: ký ức lịch sử, sức ép quân sự và trừng phạt kinh tế.

Bắc Kinh thường sử dụng lịch sử như một con bài để gây sức ép và cô lập Tokyo, nhất là đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền về “Sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt” ở Nhật Bản. Bộ Ngoại giao Trung cộng cáo buộc Nhật Bản vi phạm tinh thần của Hiến pháp Hòa bình và phá hoại sự ổn định mong manh của khu vực hậu Thế chiến II nhằm gieo rắc sự nghi kỵ giữa Nhật Bản và các nước Đông Nam Á (vốn chưa thoát hẳn khỏi ký ức chiến tranh), từ đó làm suy yếu nỗ lực kết nối đồng minh tại khu vực của Tokyo.

Bắc Kinh tin rằng cách tốt nhất để buộc Nhật Bản rút khỏi Biển Đông là tạo ra áp lực trực diện tại “sân nhà” của Tokyo là Biển Hoa Đông (quần đảo Senkaku/Điếu Ngư). Việc Nhật Bản tham gia tập trận Balikatan có thể bị Trung cộng đáp trả bằng các cuộc tập trận bắn đạn thật quy mô lớn gần Okinawa hoặc eo biển Miyako nhằm gây sức ép ở Biển Hoa Đông để buộc Tokyo phải dàn trải lực lượng và giảm sự chú ý ở Biển Đông.

Cuối tháng 6, các tàu hải cảnh Trung cộng đã khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh đối với vùng biển thuộc EEZ của Nhật Bản ở phía nam đảo Yonaguni và phía đông Đài Loan. Phía Nhật Bản gọi hành động khiêu khích của Trung cộng là “không thể chấp nhận được”.

Về kinh tế, Trung cộng vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Chính quyền Takaichi dù nỗ lực “giảm rủi ro” (de-risking), nhưng sự phụ thuộc của Tokyo vào chuỗi cung ứng của Trung cộng vẫn còn rất lớn. Bắc Kinh có thể áp dụng các lệnh cấm nhập khẩu nông thủy sản, hạn chế xuất khẩu đất hiếm (nguyên liệu trọng yếu cho ngành công nghệ cao của Nhật Bản) hoặc kích động các phong trào tẩy chay hàng hóa Nhật Bản tại Trung cộng.

Sự thực là căng thẳng kinh tế đã nhanh chóng gia tăng. Ngày 29/6, Bắc Kinh chính thức thiết lập một “Danh sách theo dõi kiểm soát xuất khẩu” nhắm thẳng vào các thực thể quốc phòng của Nhật Bản. Động thái này không chỉ là đòn trả đũa cho chính sách OSA của bà Takaichi mà còn trực tiếp đe dọa chuỗi cung ứng các linh kiện bán dẫn và vật liệu hiếm cần thiết cho việc sản xuất tên lửa Type 12 của JSDF.

Việc Trung cộng áp đặt các quy định thương mại để bao vây các doanh nghiệp quốc phòng Nhật Bản đã đẩy nỗ lực “giảm rủi ro” (de-risking) của Tokyo vào một bài kiểm tra khắc nghiệt, đồng thời tạo áp lực chính trị cực lớn lên bà Takaichi, nhất là từ phía các tập đoàn kinh tế (Keidanren) và cử tri Nhật Bản, buộc bà phải cân nhắc giữa an ninh đất nước và ổn định kinh tế với Trung cộng.

Căng thẳng hiện nay còn do sự thiếu vắng của các kênh đối thoại. Quan hệ Nhật – Trung đã đóng băng khi cơ chế liên lạc trực tiếp trên biển và trên không gần như tê liệt dưới thời Takaichi, thay thế bằng sự im lặng đáng sợ giữa Tokyo và Bắc Kinh. Cả hai đều khẳng định họ đang phản ứng một cách hợp lý trước tình hình an ninh ngày càng xấu đi. Khi các cơ chế quản lý khủng hoảng bị vô hiệu hóa, rủi ro từ một vụ va chạm tại Biển Đông hay Biển Hoa Đông dẫn đến một cuộc xung đột tổng lực càng gia tăng.

***

Từ bên ngoài, nỗ lực đảm bảo an ninh Biển Đông của chính quyền Takaichi là việc triển khai các hoạt động quân sự, nhưng bên trong là tham vọng tái định nghĩa bản sắc của Nhật Bản trong thế kỷ 21. Nhật Bản giờ đây giữ vai trò như quốc gia ủng hộ nhiệt thành cho tự do hàng hải, một đối tác an ninh tin cậy và là một cường quốc tầm trung không còn e ngại việc khẳng định vai trò mới của mình. Các bước đi chính sách của Tokyo có thể đầy khó khăn, nhưng nó là quỹ đạo không thể đảo ngược của một quốc gia đang tìm kiếm vị thế trung tâm trên bàn cờ địa chính trị khu vực.

Về an ninh, sự quyết đoán của chính quyền Takaichi có thể tăng cường năng lực răn đe chiến lược (strategic deterrence) cho Nhật Bản, nhưng cũng kích động thái độ thù địch công khai và các hành động trả đũa (cả kinh tế và quân sự) từ Bắc Kinh. Với sự quyết đoán từ hai phía, Biển Đông dần trở thành một điểm nóng chiến lược mới – nơi mà chỉ cần một tính toán sai lầm cũng có thể phá vỡ trật tự hòa bình đã được duy trì suốt 80 năm qua tại Đông Á. Để tránh rủi ro này, Nhật Bản buộc phải đủ cứng rắn để Trung cộng không chiếm ưu thế và đủ khôn ngoan để không kích nổ xung đột.

Lý Hoàng Đức/VSF

Lý Hoàng Đức hiện đang là sinh viên năm 2 khoa Nhật Bản học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Báo Quốc Dân (06.07.2026)

 

 

 

Phi Luật Tân khởi động tuần lễ kỷ niệm 10 năm Phán quyết của Tòa trọng tài về Biển Đông

Ngày 05/07/2026, Phi Luật Tân khởi động tuần lễ kỷ niệm 10 năm phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực tại La Haye bác bỏ các yêu sách chủ quyền của Trung cộng đối với hầu hết Biển Đông và khẳng định các quyền lợi biển của Phi Luật Tân theo luật pháp quốc tế. Manila vận động chính quyền địa phương kỷ niệm sự kiện này.

Ảnh tư liệu ngày 09/03/2023 cho thấy một con tàu được lực lượng tuần duyên Phi Luật Tân xác định là tàu tuần tra của Trung cộng ở gần đảo Thị Tứ trên Biển Đông. AFP via Getty Images – JAM STA ROSA

Theo trang Inquirer, khoảng 250 ngư dân tỉnh Zambales (phía tây đảo Luzon) tham gia một hoạt động biểu tượng trên biển vào sáng 05/07 do Liên minh Atin Ito phối hợp với các hiệp hội ngư dân tại Masinloc, Subic và Cabangan tổ chức. Khoảng 80 tàu cá nhỏ cùng 6 tàu lớn di chuyển vào Vịnh Subic, xếp thành hình quốc kỳ Phi Luật Tân khổng lồ kèm thông điệp « WPS, ATIN ITO! » (Biển Tây Phi Luật Tân là của chúng ta!).

Hoạt động này mở đầu chuỗi sự kiện kéo dài một tuần kỷ niệm 10 năm phán quyết trọng tài năm 2016 về Biển Đông. Phán quyết được xem là một cột mốc pháp lý quan trọng đối với Phi Luật Tân trong tranh chấp trên Biển Đông, đặc biệt là với Trung cộng.

Nhân dịp này, quân đội Phi Luật Tân (AFP) vận động thêm các chính quyền địa phương công nhận ngày 12/07 là « Ngày Chiến thắng Biển Tây Phi Luật Tân » (tên Phi Luật Tân gọi Biển Đông), theo quyết định của thành phố Cebu và Labrador (tỉnh Pangasinan) nhằm đánh dấu cột mốc 10 năm phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye và ghi nhận những đóng góp của lực lượng tuyến đầu bảo vệ vùng biển Phi Luật Tân.

Chuẩn đô đốc đã về hưu Roy Vincent Trinidad, phát ngôn viên của quân đội Phi Luật Tân về vấn đề Biển Tây Phi Luật Tân, ủng hộ các sáng kiến này và khuyến khích các địa phương khác làm theo. Ông nhấn mạnh việc đoàn kết bảo vệ chủ quyền biển đảo sẽ gửi đi thông điệp mạnh mẽ rằng « biển cả chính là một phần bản sắc dân tộc, sinh kế và tương lai » của Phi Luật Tân.

RFI (05.07.2026)