Thư cảm ơn của vợ ông Lê Chí Thành

Bà Đặng Thị Huyền Thương gửi lời cảm ơn Ban Tổ chức Giải thưởng Phóng viên Vỉa Hè lần thứ 70 năm 2026 đã trao giải thưởng cho chồng bà, ông Lê Chí Thành, xem đây là sự ghi nhận ý nghĩa cho những nỗ lực đấu tranh vì công lý và nhân quyền của ông.

Khoản tiền thưởng mang ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh gia đình đang gặp khó khăn tài chính và tinh thần, khi ông Thành đang bị giam giữ tại Trung tâm Giam giữ Người nhập cư (IDC) ở Thái Lan và bà đang chuẩn bị sinh con.

Bà bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức như Phóng viên Không Biên giới, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam và quỹ tù nhân lương tâm vì đã đồng hành bảo vệ quyền tự do ngôn luận và nhân quyền.

Gia đình bà mong muốn nhận được sự quan tâm và lên tiếng liên tục từ cộng đồng quốc tế đối với trường hợp của ông Thành và những người khác đang phải đối mặt với vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

* * * * * * *

 

Kính gửi: 

Ban Tổ chức Giải thưởng Phóng viên Vỉa Hè lần thứ 70 năm 2026

 

Kính thưa Quý vị, 

Tôi tên là Đặng Thị Huyền Thương, vợ của ông Lê Chí Thành. 

Với tất cả sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Quý Ban Tổ chức đã trao tặng cho chồng tôi, ông Lê Chí Thành, Giải thưởng Phóng viên Vỉa Hè lần thứ 70 năm 2026 cùng khoản tiền thưởng trị giá 1.000 Euro.

Đối với gia đình chúng tôi, đây không chỉ là một giải thưởng mang giá trị vật chất mà còn là sự ghi nhận đầy ý nghĩa đối với những nỗ lực đấu tranh và những hy sinh mà chồng tôi đã trải qua trong hành trình lên tiếng cho công lý, sự thật và các quyền con người.

Trong thời điểm hiện nay, khi chồng tôi đang bị giam giữ tại Trung tâm Giam giữ Người nhập cư (IDC) ở Thái Lan, còn bản thân tôi đang chuẩn bị sinh con và phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về tài chính cũng như tinh thần nơi đất khách quê người, khoản tiền thưởng 1.000 Euro mà Quý vị trao tặng đã trở thành một sự hỗ trợ vô cùng quý báu và kịp thời.

Nhờ khoản hỗ trợ này, tôi có thêm điều kiện để trang trải các chi phí sinh hoạt thiết yếu, chuẩn bị cho việc sinh nở, chăm sóc sức khỏe của bản thân và em bé sắp chào đời, đồng thời duy trì việc thăm nuôi, hỗ trợ chồng tôi trong thời gian anh đang bị giam giữ. Trong hoàn cảnh mà gia đình chúng tôi đang phải đối mặt với nhiều thử thách và bất ổn, sự hỗ trợ này đã giúp giảm bớt gánh nặng tài chính và mang lại cho chúng tôi niềm hy vọng để tiếp tục vượt qua những ngày tháng khó khăn phía trước.

Điều khiến tôi xúc động hơn cả là giải thưởng này cho thấy rằng những nỗ lực hoạt động và đấu tranh của chồng tôi vẫn được cộng đồng quốc tế ghi nhận và trân trọng. Sự quan tâm của Quý vị là nguồn động viên tinh thần vô cùng to lớn đối với gia đình chúng tôi, giúp chúng tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục kiên trì trước những thử thách đang phải đối mặt.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm kích đối với những nỗ lực không ngừng của Phóng viên Không Biên giới, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, quỹ tù nhân lương tâm, cùng các cá nhân và tổ chức đã đồng hành trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và các quyền con người cơ bản. Những hoạt động của Quý vị không chỉ mang lại sự hỗ trợ thiết thực cho các cá nhân đang gặp khó khăn mà còn góp phần lan tỏa các giá trị nhân quyền và phẩm giá con người trên toàn thế giới.

Gia đình tôi hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, theo dõi và lên tiếng của Quý vị đối với trường hợp của chồng tôi là ông Lê Chí Thành cũng như những người Việt Nam khác đang phải đối mặt với các vi phạm quyền con người. Chúng tôi tin rằng sự đoàn kết và tiếng nói của cộng đồng quốc tế sẽ góp phần bảo vệ những giá trị tự do, công lý và nhân phẩm cho tất cả mọi người.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Ban Tổ chức vì sự ghi nhận, sự động viên và sự hỗ trợ quý báu mà Quý vị đã dành cho gia đình chúng tôi trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này.

Kính chúc Quý vị sức khỏe, bình an và tiếp tục thành công trong sứ mệnh cao đẹp của mình.

 

Trân trọng và biết ơn, 

Đặng Thị Huyền Thương

Vợ của ông Lê Chí Thành

VNTB  (18.06.2026)

 

 

133 tù nhân tham nhũng được ân xá: Cú bẻ lái ngoạn mục của công lý thượng tầng

„Khi công lý bị bóp méo thành công cụ thỏa hiệp, nhà tù biến thành khu nghỉ dưỡng ngắn hạn cho giới quyền thế, thì mọi khẩu hiệu chống tham nhũng chỉ còn là một trò hề lố bịch để mị dân.“

Lời giới thiệu từ Tiếng Dân: Một nhà nước luôn nhấn mạnh khẩu hiệu “thượng tôn pháp luật”, có lẽ không gì khôi hài hơn là sự khác biệt giữa số phận của những người tham nhũng hàng ngàn tỷ đồng và những người bị kết án chỉ vì bày tỏ quan điểm. Trong số gần chục ngàn phạm nhân được đặc xá năm 2026, có 133 phạm nhân tham nhũng từng là quan chức cấp cao, gây thất thoát tài sản công khổng lồ.

Trong khi đó, các tù nhân lương tâm như nhà báo Huy Đức, Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương hay Trịnh Bá Tư… lại phải nhận những bản án nặng nề chỉ vì viết báo, hoặc lên tiếng bảo vệ đất đai của mình, hay thực hiện các hoạt động xã hội ôn hòa.

Một câu hỏi được đặt ra: Điều gì mới thật sự bị xem là nguy hiểm đối với chế độ? Những người cướp tiền bạc của dân hay là những người cất lên tiếng nói phản bác ôn hòa? Bài viết sau đây của tác giả Lê Anh nhìn vào đợt đặc xá năm 2026 như một biểu tượng của nền công lý hai tầng, nơi “khoan hồng” dường như được dành cho những kẻ biết luật chơi quyền lực, còn những người bất đồng chính kiến vẫn tiếp tục trả giá đắt cho quyền tự do ngôn luận của mình.

***

Con số 133 phạm nhân tham nhũng được đặc xá năm 2026 không đơn thuần là một quyết định pháp lý, mà chính là mật mã kích hoạt phần tiếp theo của một ván bài chính trị thượng tầng. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật sắp đặt, nơi những thanh “củi gộc” tưởng đã thành than bỗng chốc hóa phượng hoàng, ung dung bước ra khỏi lò “xông hơi” để trở lại cuộc sống vương giả.

Theo giới quan sát, nhà tù thực chất chỉ là một trạm dừng chân, một “phòng chờ VIP” được thiết kế để xoa dịu làn sóng phẫn nộ của dư luận. Bản án nghiêm khắc ban đầu chỉ là vở kịch truyền thông hoàn hảo. Khi ánh đèn sân khấu hạ xuống, những kẻ làm thất thoát hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế của nhân dân chỉ cần thực hiện một bài toán đầu tư siêu lợi nhuận: Ngồi tù vài năm “lấy lệ”, nộp lại một chút tiền lẻ gọi là “khắc phục hậu quả”, và nghiễm nhiên đổi lấy sự tự do tuyệt đối.

Hai chữ “khoan hồng” được tung ra chính là ám hiệu cho một cuộc dàn xếp và phân chia lại lợi ích ở hậu trường. Tài sản khổng lồ đã được tẩu tán an toàn từ trước, nay các cựu quan chức chỉ việc quay về tiếp quản dòng tiền. Cái gọi là “không có vùng cấm” thực chất là một bộ quy tắc ngầm dành riêng cho những kẻ biết luật chơi phe cánh.

Khi công lý bị bóp méo thành công cụ thỏa hiệp, nhà tù biến thành khu nghỉ dưỡng ngắn hạn cho giới quyền thế, thì mọi khẩu hiệu chống tham nhũng chỉ còn là một trò hề lố bịch để mị dân. Đợt đặc xá 2026 này chính là minh chứng cho thấy: Ở thượng tầng, công lý có thể bẻ lái bất cứ lúc nào, miễn là các thế lực ngầm đạt được sự đồng thuận.

Lê Anh

Tiếng Dân  (17.06.2026)

 

 

 

Lợi dụng mạng xã hội làm phóng sự, phỏng vấn sẽ bị phạt

„với quy định từ Nghị định 174, người sáng tạo nội dung sẽ càng khó hơn khi không biết rằng những thước phim mình đang thực hiện liệu có đang vi phạm pháp luật.“

Chính phủ vừa qua đã ban hành Nghị định số 174/2026/NĐ-CP  nhằm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Đáng chú ý, quy định về việc xử lý hành vi lợi dụng mạng xã hội để sản xuất nội dung dưới hình thức phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí với mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đang làm cho những nhà sáng tạo nội dung e ngại.

 

Không phải cứ phỏng vấn là báo chí

Nhìn nhận một cách khách quan, phỏng vấn, quay tư liệu thực tế (phóng sự) hay đào sâu một vấn đề (có tính chất điều tra) vốn không phải là những đặc quyền mang tính riêng biệt, độc quyền tuyệt đối của ngành báo chí. Đó chỉ là những nghiệp vụ đơn thuần, cơ bản nhằm tăng giá trị cho một video. 

Một nhà sáng tạo nội dung tự do, dù chỉ làm một video review ẩm thực hay giới thiệu danh lam thắng cảnh, họ cần phải trò chuyện, hỏi han người bản địa để nắm thêm về lịch sử cùng những câu chuyện chỉ dân địa phương mới tỏ tường. Hoặc họ cần phỏng vấn chủ quán về món ăn, cửa tiệm cũng như cảm nhận của thực khách về nơi này để tăng sức hút cho câu chuyện. 

Để làm cho phóng sự thêm phần sinh động, họ cũng cần nhiều kỹ thuật quay, góc quay cũng như chèn lời bình hay dựng tư liệu theo một mạch chuyện. Nếu không được sử dụng các phương thức biểu đạt đó, việc sản xuất một video clip chất lượng, có chiều sâu là điều hoàn toàn bất khả thi.

 

Nguy cơ từ một “cái thòng lọng lơ lửng”

Dù là một phóng sự báo chí đặc trưng hay một video thuần đánh giá, giai đoạn thu thập dữ liệu hoàn toàn không đơn giản. Giờ đây, với quy định từ Nghị định 174, người sáng tạo nội dung sẽ càng khó hơn khi không biết rằng những thước phim mình đang thực hiện liệu có đang vi phạm pháp luật.

Một đoạn phim đánh giá  phong cảnh, danh thắng cũng có thể bị suy diễn, gán ghép thành một sản phẩm có tính chất báo chí với sự bóp méo trong ngôn từ bình luận. Một người dân địa phương xuất hiện, chia sẻ ý kiến trong phim cũng sẽ có thể bị xem như một “nhân chứng” báo chí. Chỉ cần phát sinh xung đột lợi ích, kẻ xấu có thể dễ dàng cắt ghép, bám víu vào câu chữ của điều luật để gắn mác vi phạm, biến một sản phẩm văn hóa lành mạnh thành một “bằng chứng tội phạm” để triệt hạ người sáng tạo nội dung.

Rủi ro nói trên hoàn toàn có thể xảy ra khi quy định với mức phạt hành chính cao nhưng thiếu đi các hướng dẫn cụ thể. Do đó, cơ quan quản lý cần phải xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch để tránh áp đặt chế tài cho các video có cảnh “hỏi – đáp” hay “ghi hình thực tế”.

 

Nếu một mai không còn những video review

Mạng xã hội là một thế giới mở với đủ loại thông tin tốt xấu. Khi một quy định không rõ ràng được ban hành, các nhà sáng tạo nội dung có tri thức, có trách nhiệm phải chọn giải pháp an toàn nhất là dừng lại để tránh bị quy chụp.

Hậu quả kéo theo sẽ là sự mất cân bằng thông tin nghiêm trọng trên không gian mạng. Khi các nội dung có chiều sâu với góc nhìn đa chiều, phản ánh chân thực đời sống, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và ẩm thực Việt Nam ra thế giới dần bị khép lại vì nỗi sợ pháp lý, khoảng trống đó ngay lập tức sẽ bị lấp đầy bởi những nội dung vô thưởng vô phạt.

Không gian mạng lúc ấy sẽ chỉ còn là sàn diễn độc tôn của các trào lưu nhảy múa theo nhạc, các tiểu phẩm hài nhảm nhí, giật gân, bạo lực, hay những clip khoe khoang tài sản vô nghĩa được sản xuất hàng loạt nhằm mục đích câu view. Đây là những dạng nội dung cực kỳ “an toàn” về mặt pháp lý vì chúng không có phỏng vấn, không có phóng sự, không chạm đến bất kỳ một lát cắt thực tế nào của đời sống.

Lời kết 

Việc sử dụng các điều khoản định tính, thiếu tiêu chí phân định rõ ràng sẽ chỉ làm khó những người làm nội dung nghiêm túc, trong khi rác mạng vẫn có thể dễ dàng lách luật bằng những hình thức biến tướng khác.

Mục tiêu cốt lõi của việc quản lý không gian mạng nên là thanh lọc những sản phẩm số độc hại như nội dung nhảm nhí, bạo lực, bôi nhọ xúc phạm cá nhân hay tin giả gây hoang mang dư luận.  Luật pháp không nên trở thành một “vòng kim cô” để kìm kẹp những nhà sáng tạo nội dung đã bỏ công sức, thời gian và tiền bạc thực hiện các video có giá trị, lan tỏa hình ảnh một Việt Nam tươi đẹp đến khắp nơi trên thế giới.

Ngọc Linh Lan

VNTB  (16.06.2026)

 

 

Việt Nam bị Hoa Kỳ điều tra về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ: Khó thoát trừng phạt

Cú hích mạnh hơn; thuế quan phụ trội có lẽ nặng hơn

Ngày 29 tháng 5, Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ (US Trade Representative, USTR) tuyên bố mở cuộc điều tra đợt 3 ,nhắm riêng vào Việt Nam vì vi phạm sở hữu trí tuệ một cách nghiêm trọng. Trước đó, ngày 30 tháng 4, USTR chỉ định Việt Nam là Quốc Gia Ngoại Quốc Ưu Tiên (Priority Foreign Country) về đánh cắp tài sản trí tuệ của Hoa Kỳ, tràn lan, dai dẳng và có hệ thống.

Từ 29 tháng 5 đến 2 tháng 7 là thời gian để mọi người góp ý cho cuộc điều tra. Đến nay, đã có 4 cá nhân từ Việt Nam và 5 tổ chức ở Hoa Kỳ góp ý. Trong số 5 tổ chức này có 2 tổ chức người Việt: BPSOS và Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam.

Số người từ Việt Nam đều lên tiếng trong tư cách cá nhân và dùng chung một bài bản: nhà nước Việt Nam đã cố gắng đáng kể dù chưa hoàn toàn xóa bỏ nạn đánh cắp bản quyền; chính phủ Hoa Kỳ nên hỗ trợ thay vì áp thêm thuế quan. Họ chỉ biện bác và kêu gọi chứ hoàn toàn không cung cấp dữ liệu căn cứ, ngoại trừ một người cung cấp dữ liệu lấy từ nhà nước nhưng không ghi tên họ thật.

Hình 1 – ANTV đánh cắp, thay đổi và cắt ghép trái phép sản phẩm trí tuệ của Mạch Sống Media

 

Dù sao, điều này cho thấy nhà nước Việt Nam đã biết sợ vì đang ê ẩm với kết luận của USTR về điều tra liên quan lao động cưỡng bức: đề nghị mức thuế quan phụ trội 12.5%. Trong vài tuần tới, USTR sẽ công bố kết quả cuộc điều tra đợt 2 về thặng dư mậu dịch mang tính cơ cấu.

Họ chỉ đạo cho người của họ lên tiếng với hy vọng tranh thủ được sự cảm thông của USTR. Tuy nhiên, các góp ý ấy đều vô tích sự vì USTR không thể kiểm chứng độ khả tín của người góp ý.

Các đóng góp nặng ký

Trong số 5 tổ chức ở Hoa Kỳ, có các góp ý “nặng ký” sau:

  1. La Crosse Technology ở tiểu bang Wisconsin chuyên sản xuất các thiết bị khí tượng, thiết bị đo nhiệt, và dồng hồ. Họ đầu tư nhiều vốn để chuyển xưởng sản xuất từ China sang Việt Nam nhưng bị khựng lại vì tệ nạn đánh cắp nhu liệu thiết kế ở quốc gia này, ảnh hưởng nặng đến hoạt động thương mại.
  • Trung Tâm Làng Văn ở Westminster, California cho biết bản quyền âm nhạc đã bị vi phạm nghiêm trọng và tràn lan ở Việt Nam. Họ đã kiện ra tòa 2 thủ phạm, một người đã đạt thoả thuận ngoài toà còn người kia mới đây bị công an bắt giữ nhưng không rõ có sẽ bị xử phạt đích đáng và bắt bồi thường cho nạn nhân hay chỉ là việc làm cho ra vẻ.
  • BPSOS ở Bắc Virginia chỉ ra rằng các cơ quan truyền thông của nhà nước hoặc do nhà nước Việt Nam kiểm soát thường xuyên lấy hình ảnh từ tờ báo Mạch Sống Media mà BPSOS đã phát hành trong suốt 25 năm nay, thay đổi và cắt ghép chúng mà không xin phép, rồi dùng chúng để vu khống, phỉ báng BPSOS và các cộng tác viên. USTR cần đòi hỏi nhà nước Việt Nam xử phạt tất cả các cơ quan truyền thông vi phạm theo mức phạt của Nghị Định Chính Phủ 174/2026/ND-CP cho mỗi lần vi phạm, bắt rút bài hoặc video vi phạm kèm lời xin lỗi, và bồi thường thiệt hại thoả đáng cho BPSOS và Mạch Sống Media nếu không muốn tránh thuế quan phụ trội.
  • Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập ở Florida cho biết tờ báo của họ, Việt Nam Thời Báo, không những bị đánh cắp bản quyền tương tự như BPSOS mà toàn bộ ban biên tập ở Việt Nam đều bị bỏ tù: Ông Phạm Chí Dũng 15 năm tù, Ông Nguyễn Tường Thụy 11 tù, và Ông Lê Hữu Minh Tuấn 11 năm tù. Đó là cách nhà nước Việt Nam ngăn chặn Việt Nam Thời Báo, xuất bản ở Hoa Kỳ, tiếp cận thị trường người đọc ở Việt Nam.

Ts. Nguyễn Đình Thắng

https://machsongmedia.org (16.06.2026)

 

 

 

Khi cái SIM thành cái còng

 

Từ ngày 15 tháng Sáu, 2026, ở Việt Nam, một thuê bao di động đổi máy dùng SIM sẽ phải xác thực lại khuôn mặt. Nhà mạng phát hiện SIM được lắp sang thiết bị khác, rồi yêu cầu chủ thuê bao chứng minh mình là chủ thuê bao. Quá hạn, số điện thoại có thể bị chặn gọi đi, chặn nhắn tin đi, chặn hai chiều, rồi bị chấm dứt dịch vụ. Có vẻ như đó là chuyện kĩ thuật của ngành viễn thông. Thật ra nó đụng thẳng vào đời sống. Bây giờ số điện thoại là chìa khóa ngân hàng, ví điện tử, mã OTP, hồ sơ hành chính, tài khoản mạng xã hội, công việc, quan hệ gia đình. Bị tước mất số điện thoại cá nhân trong xã hội giờ đây chẳng khác nào bị khóa mất một phần đời sống dân sự của công dân.

Công bằng mà nói, Việt Nam có vấn đề thật với SIM rác. Điện thoại lừa đảo, tin nhắn giả ngân hàng, cuộc gọi giả công an, giả tòa án, giả nhân viên điện lực, giả giao hàng, giả đủ thứ, đã thành một thứ rác độc tràn vào từng nhà. Một số điện thoại đứng tên bậy bạ có thể mở tài khoản, nhận mã xác thực, lừa chuyển tiền, mạo danh người khác. Làm sạch dữ liệu thuê bao vì vậy có lí do. Người dân cũng cần được bảo vệ trước các trò tráo SIM, chiếm số, chiếm tài khoản, vay tiền bằng giấy tờ của người khác. Chính sách đưa ra nghe có vẻ hợp lí. Một nhà nước đàng hoàng phải biết dọn cái đống rác viễn thông ấy.

Nhưng từ cái SIM sang cái mặt người là một bước rất ngắn trong cách chính quyền muốn kiểm soát tối đa người dân, bất chấp quyền riêng tư. Khi số điện thoại bị buộc vào căn cước, VNeID, cơ sở dữ liệu dân cư và khuôn mặt, nó chính là một cái thẻ công dân thu nhỏ. Người dân muốn giữ số điện thoại phải đưa mặt cho hệ thống nhận diện. Cái mặt vốn là phần riêng tư nhất, thân thể nhất, người nhất, nay thành một thủ tục hành chính. Mật khẩu lộ còn đổi được. Khuôn mặt lộ thì mang cả đời. Mà dữ liệu đã vào kho lớn thì số phận của nó nằm ngoài tay người dân. Ai giữ, ai xem, ai trích xuất, ai chia sẻ, ai chịu trách nhiệm khi rò rỉ, tất cả những câu hỏi ấy ở Việt Nam 99% chìm vào im lặng.

Chỗ đáng sợ của chính sách này nằm ở thói quen mà nó tạo ra. Người dân quen dần với việc muốn dùng một dịch vụ thiết yếu thì phải nộp thêm một mảnh thân thể mình, tức là gương mặt, cho bộ máy. Hôm nay là giữ số điện thoại. Mai có thể là tài khoản mạng xã hội, ví điện tử, vé tàu, vé máy bay, dịch vụ công, thẻ ngân hàng, camera ngoài phố. Sự kiểm soát ấy mở rộng từ từ, mỗi lần thêm một chút, mỗi chút đều có lí do nghe rất tử tế. Chống lừa đảo. Bảo vệ người dân. Làm sạch dữ liệu. Bảo đảm an ninh. Những chữ ấy, khi đi qua miệng một nhà nước luôn muốn nhìn sâu hơn vào đời sống của dân, rất có thể trở thành cái cớ để chọc thẳng vào những vùng riêng tư nhạy cảm nhất của mỗi người.

Nhìn ra ngoài một chút sẽ thấy khác biệt nằm ở cái phanh, chứ chưa hẳn ở cái xe. Pháp yêu cầu định danh khi mua SIM, nhưng dữ liệu cá nhân, nhất là dữ liệu sinh trắc, nằm dưới luật bảo vệ dữ liệu rất chặt của châu Âu. Singapore quản SIM trả trước nghiêm, giới hạn số SIM, kiểm tra giấy tờ kĩ. Philippines bắt buộc đăng kí SIM và từng tranh cãi nhiều về selfie, bảo mật dữ liệu. Mĩ nhìn chung chưa có cơ chế liên bang buộc toàn dân đăng kí SIM trả trước bằng khuôn mặt. Trung Quốc đi xa nhất với tên thật, quét mặt, tài khoản mạng, ngân hàng, camera và dữ liệu công dân nối vào một mạng kiểm soát khổng lồ. Việt Nam chưa cần giống hệt Trung Quốc mới đáng lo. Chỉ cần cùng đi theo cách thức ấy, xã hội đã phải giật mình.

Một chính sách chống lừa đảo chỉ đáng tin khi nó đi cùng quyền tự vệ của người dân trước chính nhà nước. Ở Việt Nam, người dân giao dữ liệu rất nhiều, nhưng gần như chẳng có quyền thật sự để hỏi lại. Báo chí không có vị trí độc lập để điều tra đến cùng. Tòa án không có năng lực thể chế để chặn lạm quyền. Cơ quan bảo vệ dữ liệu không đủ thẩm quyền để khiến bộ máy hành chính phải e dè. Doanh nghiệp viễn thông sống nhờ giấy phép, nên cuối cùng vẫn phải nghe lệnh nhà nước nhiều hơn bảo vệ khách hàng. Trong một hoàn cảnh như vậy, mỗi lần nhà nước đòi thêm dữ liệu, người dân có thêm lí do để bất an.

Cái SIM bé xíu sẽ không còn là chuyện bé xíu nữa. Nó là điểm kết nối giữa công nghệ tư bản, quyền lực nhà nước và đời sống công dân. Chống SIM rác là việc cần làm. Nhưng cột chặt hình ảnh khuôn mặt của người dân vào số điện thoại cho bất cứ mọi giao dịch dân sự nào cũng là chuyện thật đáng sợ. Một xã hội tự do không thể để quyền riêng tư của con người bị hi sinh quá dễ dàng dưới danh nghĩa an ninh. Khi muốn giữ một số điện thoại cá nhân mà buộc phải chường mặt ra cho cả hệ thống kiểm soát, người dân cần phải hiểu rằng mình đang bị ép phải trả một cái giá đắt hơn nhiều so với vài phút của cái gọi là “xác thực trên màn hình”.

— tino

FB Tino Cao (16.06.2026)

 

 

 

Tinh gọn báo chí ở TP.HCM: thu hẹp cánh cửa cho người yếu thế

Thành ủy TP.HCM đã chính thức ban hành quyết định thành lập Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình TP.HCM, định hướng theo mô hình cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện. Theo đề án tổ chức mới, cơ quan này sẽ bao gồm 3 đơn vị báo chí trực thuộc là Báo Sài Gòn Giải Phóng, Báo điện tử Tuổi Trẻ, Đài Phát thanh và Truyền hình TP.HCM (HTV), cùng Trung tâm Đào tạo và Truyền thông.

Cùng với quyết định này, 8 cơ quan báo chí cũng sẽ kết thúc hoạt động là các tờ báo: Báo Người Lao Động, Báo Phụ nữ TP.HCM, Báo Pháp luật TP.HCM, Tạp chí Giáo dục TP.HCM, Tạp chí Du lịch TP.HCM, Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn và Tạp chí Khoa học Phổ thông.

Là một người có thói quen đọc báo giấy giao tận nhà lâu nay, ông Hai bày tỏ sự băn khoăn trước thông tin này: “Đồng ý là có thể cùng một tin tức nhiều tờ báo đồng loạt đăng tải nhưng sẽ có các góc nhìn khác nhau, cho nên tin luôn có điểm mới. Đó là chưa kể đến mỗi tờ báo đều có một chức năng riêng cho nên sự tồn tại của các tờ này, bản chất và đối tượng phục vụ là khác nhau”.

 

Ít tòa soạn, người yếu thế biết chạy cửa nào? 

Có một thực tế không thể phủ nhận: Tại Việt Nam, báo chí chính thống không chỉ làm nhiệm vụ thông tin đơn thuần, mà còn là nơi nhiều người dân nghèo, những người yếu thế thiếu am hiểu pháp luật tìm đến. Khi gặp phải những uất ức, xích mích ở cơ sở, bên cạnh việc tìm đến luật sư, văn phòng bạn đọc của các tòa soạn chính là nơi người dân gửi gắm niềm tin và hy vọng cuối cùng.

Khi các toà soạn còn hoạt động độc lập, người dân sẽ có nhiều sự lựa chọn. Nếu tờ báo này không dám lên tiếng thì họ có thể “vác đơn” sang nơi khác để “nhờ cậy”. Nhiều  “hòm thư” khiếu nại hoạt động song song chính là những cái van xả cho các bức xúc xã hội.

Từng được báo chí lên tiếng bảo vệ quyền lợi, ông Tư, một người dân lao động tự do,  xúc động chia sẻ:

“Tôi không biết chữ, bị người nhà lừa, lấy mất giấy tờ, cũng không biết phải làm sao để lấy lại. Rồi có bữa toà án kêu lên ký giấy vắng mặt gì đó, mà tôi có nhận được cái thư triệu tập nào đâu. Tôi lò dò đến báo tỉnh, tới phòng bạn đọc, trình bày. Nhờ họ lên tiếng, tôi mới lấy lại được công bằng và giấy tờ của mình. Thật sự rất cảm ơn sự giúp đỡ của báo tỉnh lúc đó”.

Do đó, khi tiến hành quy hoạch và tinh gọn báo chí, áp lực sẽ đè nặng lên vai những “người ở lại”. Dù các cơ quan báo chí chủ lực như Sài Gòn Giải Phóng hay Tuổi Trẻ có sẵn sàng lắng nghe đến đâu, thì nguồn lực của mỗi tòa soạn luôn có hạn. Khi số lượng đơn thư kêu cứu quá nhiều, việc quá tải là điều khó tránh khỏi. Nếu có nhiều cơ quan báo chí khác nhau thì họ sẽ cùng “chia lửa” áp lực tiếp nhận phản ánh dễ dàng hơn.

Người yếu thế sẽ ra sao?

Tại Việt Nam, mọi cơ quan báo chí chính thống đều đặt dưới sự quản lý của Đảng và Nhà nước, hoạt động vì lợi ích chung của nhân dân. Người yếu thế luôn đặt trọn chỉ có thể trông chờ công lý từ những tờ báo nhà nước.

Khi các đầu báo quen thuộc biến mất, nỗi uất ức của người dân sẽ không tự nhiên mất đi theo. Mất đi con đường cậy nhờ chính thống, người dân sẽ tự biến trang Facebook, TikTok cá nhân thành nơi tố cáo, livestream phơi bày sự việc một cách tự phát. .

Một người lao động bình thường vốn rất khó am hiểu hết những lắt léo của Luật An ninh mạng hay các quy định về quyền riêng tư. Trong cơn tuyệt vọng và nóng giận, việc sử dụng những ngôn từ quá trớn trên mạng xã hội rất dễ biến họ từ nạn nhân thành người vi phạm pháp luật, đối mặt với các chế tài hành chính hoặc hình sự vì lỗi bôi nhọ, xúc phạm danh dự người khác.

Sau sáp nhập tỉnh thành vào tháng 7.2025, một số tờ báo ở địa phương đã bị xóa sổ, tiếng nói của người dân đã bị thu hẹp đáng kể. Giờ đây, kịch bản đó lại tái diễn, khiến cánh cửa để dân tìm đến trước những bất công càng ngày càng xa hơn. 50 năm Sài Gòn đổi tên, cả Người Lao Động lẫn Pháp Luật cũng sẽ biến mất sau công cuộc quy hoạch báo chí ở TP.HCM.

VNTB (15.06.2026)