Phần 2

Viet Thanh Nguyen: Tôi là một người Công giáo và theo nhiều cách, thực ra tôi là một người vô thần. Huyền thoại của Công giáo và những truyện kể về sự đau khổ, hi sinh và cứu chuộc, và cuộc sống sau cái chết đã ảnh hưởng đến tiểu thuyết của tôi và cách viết của tôi. Với bạn thì Phật giáo định hình bạn, tinh thần bạn, tác động đến lối viết của bạn, điều này thật sự rất hay. Khi bạn nói về Thích Nhất Hạnh và ý tưởng về tự truyện, tôi nghĩ lằn ranh giữa tính tâm linh, thơ ca… là cực kỳ mỏng manh trong tác phẩm của ông. Bạn có thể làm rõ hơn điều đó […] Bạn cũng vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết mới “Hoàng đế xứ Gladness” kể về một người Mỹ gốc Việt bỏ học đại học tìm thấy chính mình trong tình huống khi anh ta trở thành một người chăm sóc đồng thời là người bạn với cụ bà Lithuania vốn là người tị nạn đang trên bờ vực của chứng mất trí nhớ. Anh ta cũng đang cố gắng tồn tại về phương diện kinh tế bằng cách tìm một công việc trong chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và tác phẩm cũng phơi bày sự hoảng loạn của những công nhân đang vật lộn kiếm sống. Bạn có thể cho chúng tôi biết là bạn đã đưa vào đó chất tự truyện, hay nói về Phật giáo, về tinh thần như thế nào, và tác động cụ thể của những điều đó vào cuốn tiểu thuyết này?
Ocean Vuong: Tôi thường được hỏi là phần nào trong đời thực dệt thành tác phẩm của tôi. Tôi không xấu hổ vì điều đó. Tôi luôn nói rằng “Moby Dick” cũng là một tác phẩm tự truyện. Tôi từ chối ý nghĩ rằng nhiều nghệ sĩ Mỹ hình dung nghệ thuật không đến từ đâu. Một lần nữa, nó đến từ tư tưởng phương Tây, như khi Homer viết Iliad, ông đã cầu xin những thi thần giúp mình, ban cho ông sự thánh thiêng và chúc phúc cho công việc [sáng tác] này. Milton cũng vậy: ta ở đây để truyền đạt đường lối của Chúa đến loài người. Vậy nên ông như một kiểu bình chứa mà thông tin xuất phát từ địa hạt cao hơn, siêu vượt hơn, và cũng cho phép bạn cảm thấy như mình là người được chọn để làm công việc này. Tôi luôn phản đối ý tưởng đó. Tôi chỉ nghĩ là tất cả chúng ta đều là những con người tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, và vì như thế nên câu văn của Nabokov mới thay đổi khi ông chuyển từ viết tay sang đánh máy. Tư tưởng chúng ta hình thành từ thời đại chúng ta. Vậy nên tôi bắt đầu từ đó. Tôi không nghĩ có một loại tri thức toàn thể để người ta khai thác. Chỉ là chúng ta ở đây và viết từ đây. Tư tưởng đó cũng được hình thành từ Phật giáo. Nghiệp [karma] là kết quả của hành động. Nghiệp thường bị hiểu lầm ở phương Tây như là hậu quả hay sự trả thù, nhưng định nghĩa cốt lõi là ở hành động và mối quan hệ nhân quả. Nên có nghiệp tốt, nghiệp xấu. Đối với tôi, có những phần trong đời tôi vừa đẹp đẽ vừa kinh khủng mà hầu hết độc giả không bao giờ biết được, vì tôi không thể biến nó thành ý tưởng. Là một nhà thơ và người viết tiểu thuyết, tôi lưu thông trong thế giới của ý tưởng. Ngược lại, một nhà báo trước tiên phải lưu thông trong thế giới các dữ kiện thực hay những ý tưởng xuất phát từ sự thật. Với tôi, đầu tiên phải là ý tưởng. Vì vậy, phần tự truyện đời tôi mà người ta nhận ra, là phần tôi có thể đan dệt vào một hệ thống ý tưởng quan trọng đối với tôi. Trái lại, có những đoạn đời của tôi mà chúng chỉ ở đó thôi, chúng là dữ kiện thực, nhưng tôi không thể giành lấy và đưa vào hệ thống ý tưởng. Tôi nghĩ rằng đó là điểm khác biệt giữa lời thú tội trống rỗng và nghệ thuật, vốn được sắp đặt và có tính chiến lược.
Trong cuốn sách đầu tiên của tôi, nó như một tuyên bố của người nghệ sĩ, “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” là nơi tôi sử dụng thơ ca, triết học, chiến lược và lý thuyết để từ chối kể một câu chuyện. Và nhiều người không vui với cuốn sách này vì tôi không muốn mời mọi người đi vào sân khấu của cuốn sách, mang theo bắp rang và ngồi xem nỗi đau của người Mỹ gốc Việt, vì tôi biết đó là điều người ta trông đợi nơi tôi. Tôi biết mọi người sẽ đến, sẽ ngồi lại. Nên tôi không muốn kể một câu chuyện. Thực ra, thay vào đó, cuốn sách như một chuyên luận về tư duy. Yếu tố vật chất của sự cấu tạo văn bản luôn được cảm thấy đầu tiên nơi tác phẩm này. Tôi mượn cách làm đó từ “Go Tell It on the Mountain” của Baldwin. Ông biết rằng đó là tác phẩm đầu tay của mình, ra mắt vào những năm 1950. Baldwin biết về thời điểm đó, biết rằng giới văn học da trắng muốn ông đưa đi tham quan khu Harlem [một không gian văn hoá biểu tượng của người Mỹ gốc Phi – N.H.A]. Ông biết và cũng biết cách nó được tiếp thị như thế nào. Nhưng những gì ông đã làm thì thật đẹp. Tác phẩm của ông khoảng 300 trang. Dòng thời gian của cuốn sách chỉ kéo dài 24 tiếng. Và những gì ông làm, thay vì cung cấp một phòng trưng bày chân dung tạo hình một gia đình người da đen đến đây từ cuộc đại di cư, thì tác phẩm di chuyển theo chiều ngược lại: Mỗi nhân vật là một cánh cửa dẫn vào quá khứ. Nó tương tự việc yêu cầu mọi người lên một chuyến tham quan bằng xe buýt và rồi Baldwin bước lên xe, cầm mic và nói: “Chúng ta không có động cơ, không có bánh xe, nhưng tôi sẽ nói chuyện với bạn trong 300 trang giấy”.
Còn cuốn “Hoàng đế xứ Gladness” là nỗ lực của tôi để đưa ý tưởng vào hành động. Ý tưởng đó là: Cuộc sống của người Mỹ là cuộc sống xuất phát từ chiến tranh. Ở đây, chúng ta đo thời gian bằng chiến tranh. Bạn từng thử thuê một căn hộ và người môi giới nói với bạn rằng căn hộ đó được phục dựng sau chiến tranh chưa? Hay, đó là một trang trại kiểu trước nội chiến – “Ý anh là một đồn điền cũ?”. Kiểu vậy. Đi đến khoa Anh ngữ, và những cuốn tiểu thuyết hay nhất là tiểu thuyết hậu chiến, đúng không? Những văn bản vĩ đại nhất là văn bản thời nội chiến trong kỷ nguyên Victoria. Chúng ta đo thành công và danh mục truyền thông và văn hoá thông qua bạo lực. Chúng ta cũng đo lường chính chúng ta bằng bạo lực – “bạn đang giết nó”, “bạn đang đập nát nó”. Khi nghĩ về bản chất của người Mỹ, ta thường nghĩ về hai con người sống và phát triển ở ngoại ô, như tác phẩm của John Shaver, John Updike vào hồi giữa thế kỷ, còn tôi muốn viết một cuốn sách mà trong đó, người Mỹ thường trú ở đây là hai con người đến từ hai lục địa khác nhau, hai cuộc chiến tranh khác nhau, cách nhau 40 tuổi, sống chung dưới một mái nhà, cố gắng để hiểu di sản bạo lực mà họ thừa kế.
Viet Thanh Nguyen: Bạn có nói về “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” và thực ra đó không phải là cuốn đầu tiên. Ý tôi là trước đó bạn đã là một nhà thơ và trước khi xuất bản “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian”, tập thơ “Trời đêm những vết thương xuyên thấu” đã là một tác phẩm quan trọng, nó cũng tác động lớn đến phê bình và văn hoá. Nhưng nhiều người đọc “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” của bạn trước tiên và cuộc sống của bạn đã có nhiều thay đổi kể từ sau cuốn sách đó. Khi tôi gặp bạn lần đầu vào năm 2017, bạn mới trở thành một tiểu thuyết gia, và là một nhà thơ. Chúng ta đang sống trong một xã hội mà tôi nghĩ là không có quá nhiều sự chú ý dành cho nhà thơ và thơ ca, người ta chú ý hơn đến tiểu thuyết gia. Giờ đây bạn đã có sự nghiệp thứ hai, tôi không biết “sự nghiệp” có phải là từ đúng không, dù vậy bạn đã trở thành một tiểu thuyết gia bên cạnh một nhà thơ. Điều gì đã thay đổi nơi bạn trong vài năm nay? Ý tôi là về mối quan hệ giữa nghệ thuật và hình thức mà chúng ta đang bàn tới. Nhưng văn chương chúng ta viết và những gì chúng ta đọc đang bị đắm chìm trong thế giới vật chất. Bạn có nói về lịch sử bạo lực và chiến tranh vốn cấu trúc nên ý niệm văn chương của chúng ta và tạo ra sự phân kỳ. Nhưng còn có lịch sử của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa hàng hoá mà ở đó, sách bị đối xử như hàng hoá. Sự nghiệp bị đối xử như hàng hoá. Tác giả bị đối xử như hàng hoá. Tôi cho rằng danh vọng bao quanh bạn, bất chấp bạn muốn nó hay không, theo một cách nào đó đã ảnh hưởng đến mối quan hệ của bạn với việc viết lách hoặc cách bạn di chuyển trong thế giới này với tư cách là một nhà văn.
Ocean Vuong: Mọi chuyện trở nên to lớn hơn, đó là điều chắc chắn, nhưng tôi luôn phải kháng cự lại. Tôi nghĩ kháng cự nó luôn là trung tâm đời sống của tôi. Tôi biết mọi thứ đang diễn ra nhanh chóng nhưng tôi đã là nhà văn chuyên nghiệp từ khi tôi 15 tuổi và tôi đã nhìn thấy chuyện đó đến. Tôi đã có một khoá học cấp tốc về chuyện đó khi rời nhà đến New York năm 17 tuổi và được mở mang đầu óc. Tôi hiểu rõ sự huỷ hoại mà danh tiếng mang lại, nhưng một lần nữa, tôi đến với trang giấy với tư cách là một người thực hành Phật pháp nghiêm túc. Tôi định đi tu trước khi trở thành nhà văn. Và có một cố vấn hướng nghiệp ở trường trung học đã thay đổi con đường của tôi. Tôi định đi đào tạo ở California tại một nơi gọi là Đại học miền Tây, rồi tôi sẽ đến Làng Mai và xuống tóc. Tôi đã được mẹ chúc phúc. Tất cả đã lên kế hoạch. Và rồi người cố vấn hướng nghiệp tình cờ đó nói: “Sao em không đi học trường cao đẳng cộng đồng? Nó miễn phí mà. Khoản trợ cấp Pell Grant có thể cho em 5000 đô”. Vào lúc đó, mẹ tôi kiếm được 12.000 đô một năm. Chúng tôi sống trong khu nhà trợ cấp của chính phủ [section 8 housing]. Nên, 5000 đô ư, tôi kiểu: “Trời ơi, tôi sẽ lấy phần đó rồi đưa cho mẹ tôi và trở thành một tu sĩ”. Rồi tôi học môn Viết 101 ở đại học. Đến giờ tôi vẫn không thể tin được. Đó là môn Viết 101 tại Cao đẳng Cộng đồng Manchester. Giảng viên là một cựu giáo sư Harvard đã nghỉ hưu và lớp học này có vẻ buồn chán đối với bà. Nhưng thay vì dạy chúng tôi cách viết email trang trọng, vốn là mục tiêu để những sinh viên nghèo này có việc làm, bà đưa cho chúng tôi những trang viết của Milton Friedman, Annie Dillard, Baldwin, Camus. Chúng tôi nghiên cứu cả trường hợp Lizzie Bordon. Với tôi, việc viết lách là để tôi hiểu về nỗi đau của thế giới chúng ta, và ở khía cạnh vật chất thì nó giúp tôi hỗ trợ được cho gia đình mình. Vậy là tôi hoàn toàn dấn thân vào con đường đó. Thú vị là, đó lại là lý do tôi chuyển đến học ở trường kinh doanh để có thể chăm sóc gia đình. Mục đích đó chưa bao giờ thay đổi, ngoại trừ việc tôi đã có thể lo cho gia đình mình bằng lời của tôi, bằng sách tôi viết ra.
Việc tôn sùng sự thanh lọc nơi nghệ sĩ Mỹ, đặc biệt là nơi người tị nạn hay những nghệ sĩ nghèo, là ở chỗ họ trốn thoát. Họ đi mất, rời khỏi phần còn lại bụi bặm, vượt thoát và vươn lên từ chốn họ xuất thân. Tôi luôn từ chối ý niệm này vì nó thật vừa vặn với chủ nghĩa tư bản, với huyễn tưởng đế quốc, rằng bất cứ thứ gì đáng giá cũng phải vươn lên, thay vì tạo ra hệ thống có thể sửa chữa và giúp đỡ con người ở tại đó để không cần phải trốn thoát, để giữ phẩm giá và quyền tự chủ. Vậy là, tôi trở lại, với câu chuyện mà không phải nhà báo hay báo chí nào cũng muốn nghe, nhưng mục đích của tôi luôn là như thế: mục đích kiếm tiền giúp đỡ gia đình. Tôi sống ở New England. Toàn thể gia đình tôi ở đây, tất cả sống ở khu Hartford. Dì tôi vẫn làm việc ở FedEx. Anh chị em họ tôi làm nail. Nhiều người làm việc ở nhà máy. Tôi còn rất trẻ và gia đình tôi cũng rất trẻ. Mẹ tôi mất lúc 51 tuổi. Dì tôi ngoài 50. Anh chị em họ tôi từ 20 đến trên 30. Nên tôi vẫn ở đây, tôi không thể bỏ đi. Có một phóng viên nói với tôi về Annie Ernaux và những nhà văn Pháp thuộc tầng lớp lao động, họ nói Annie Ernaux tự gọi mình là kẻ đào ngũ, kẻ phản bội giai cấp, và hỏi tôi thấy chuyện đó thế nào. Tôi trả lời, tôi có thể hiểu điều đó, có thể hiểu được trong hoàn cảnh của bà, nhưng khi tôi nghĩ về chính mình thì chuyện đó lại không phù hợp. Tôi nhận ra là tôi không thể rời đi. Điểm khác biệt ở chỗ, bà [Annie Ernaux] là một phụ nữ da trắng trong một quốc gia hầu hết là da trắng, bà có thể chỉ việc ra đi và không cần có bổn phận với ai xung quanh. Trái lại, tôi có công việc ở Stanford, Paris, Đức – những công việc yêu thích. Khi những việc đó đến, tôi không thể đi được. Tôi phải ở đây, nó thậm chí còn không phải là gánh nặng. Tôi nghĩ nhiều di dân cũng chia sẻ suy nghĩ này, tôi đang nói về một phụ nữ Việt Nam khác, làm việc trong lĩnh vực kinh doanh và chúng tôi gặp nhau cách đây vài tuần tại một buổi gây quỹ ở Hartford. Cô ấy nói với tôi: “Tôi đã làm việc cho một công ty Mỹ, tôi là luật sư doanh nghiệp, kiếm được rất nhiều tiền. Rồi khi ba tôi bị bệnh mất trí nhớ, ở Hartford, ngay lập tức tôi báo là tôi sẽ về nhà, vì ba tôi chính là nhà của tôi”. Nó thậm chí còn không cần thương lượng, chỉ là “Tôi sẽ bỏ việc và về nhà, vì đó là chuyện tất yếu”. Bạn biết không, tôi đã không nhận ra rằng khi tôi bắt đầu trở thành nhà văn, là tôi đang làm điều gì đó phóng khoáng, nổi loạn, nhưng rồi tôi nhận ra rằng thực ra đó cũng chính là câu chuyện mà rất nhiều anh chị em người Mỹ gốc Việt đã trải qua, rằng chúng tôi chỉ đang chăm lo gia đình mình. Đó là phần khó nhất, cô đơn nhất của việc là một người Mỹ gốc Việt trong xã hội Mỹ Á.
Tôi xin lỗi vì đã dài dòng, nhưng khi tôi mới đến Harford và New York, tôi nhớ có một khoảng khắc rất đặc biệt khi tôi nói chuyện với một người lớn tuổi, một nhà thơ cao niên – tôi sẽ không nói tên, vì tôn trọng ông. Chúng tôi đang dự tiệc mừng tác phẩm của ông và tôi ngưỡng mộ ông ấy, ông đã viết nhiều cuốn sách; ông kể với tôi về câu chuyện đẹp của ông, về gia đình ông, về việc nhập cư, và chúng tôi chia sẻ những câu chuyện đó như thể có mối gắn kết với nhau. Rồi tôi nói ông nên viết về nó, dù dưới bất kì hình thức gì. Ông đáp lại: “Tôi không muốn đem gia đình mình ra làm trò cho người da trắng”. Khi đó tôi nhận thấy rằng có một nỗi buồn lớn lao ở trong tôi, bởi vì tôi kiểu như: Ồ, chúng tôi đang ở đây, trong căn phòng đầy người Mỹ gốc Á, và tôi đã đọc tất cả tác phẩm của ông ấy, tôi đang ngồi trước mặt ông, còn ông không xem tôi như một độc giả. Ông không thấy tác phẩm của ông cũng là dành cho những người như tôi, và cái nhìn của người da trắng mạnh mẽ đến mức nó đã hút hết mọi giả định về sản phẩm văn hoá của ông. Tôi nhận thấy có một điều tôi đã không hiểu trước đây, đó là tôi trưởng thành trong một cộng đồng nhập cư da đen và da nâu, người Haiti, Jamaica, Dominica, Puerto Rico, và vì vậy, từ năm 2 tuổi khi tôi đến đây [Mỹ] cho đến năm 18 tuổi, tôi đã không sống cùng với người da trắng. Tôi đã không nhận thấy điều đó. Mà đó chỉ là điều bình thường. Rồi khi đến New York và bắt đầu có nhiều người Mỹ gốc Á xung quanh tôi hơn, tôi nhận ra Đạo luật Loại trừ người Trung Quốc đã tạo ra một khoảng chân không của tầng lớp trung lưu Mỹ Á, là những người được chọn nhờ giỏi kĩ năng được cho phép vào nước Mỹ, và cha mẹ họ là luật sư, bác sĩ, doanh nhân, rồi họ đi đến các trường hàn lâm. Vậy nên nghệ sĩ, giới học thuật chủ yếu đến từ tầng lớp trung lưu, nhưng mà họ cũng lớn lên với người da trắng ở xung quanh. Vậy là khoảng khắc giật mình đó đã biến thành một niềm cảm thông lớn lao khi tôi nhận ra, ồ, mình không biết việc lớn lên trong sự bao quanh bởi cái nhìn của người da trắng và phải thương lượng với cái nhìn đó mỗi ngày là như thế nào – vì tôi chưa bao giờ trải qua điều đó.
Và tôi lại nhận ra rằng, bởi vì người Mỹ gốc Việt lúc bấy giờ là cộng đồng còn tương đối mới, mà huyền thoại về nhóm thiểu số kiểu mẫu [model minority] là thứ người ta yêu thích đặt để người Mỹ gốc Á vào, vì đó là kiểu người đạt thành tích cao, có bằng cấp cao, kiếm được nhiều tiền – trong khi người Mỹ gốc Việt thì lại chẳng vừa với kiểu mẫu đó. Chúng tôi được đặt vào đó, nhưng thực sự chúng tôi đang làm tỉ lệ [kiểu mẫu] giảm xuống, vì chúng tôi có tỉ lệ tự tử cao, vấn đề sức khoẻ tâm thần cao, không có bằng tốt nghiệp trung học hay bằng tương đương [nguyên văn: GED], vì chúng tôi vẫn còn mới và trải nghiệm tị nạn đặt chúng tôi vào tình trạng nghèo đói mà chúng tôi vẫn đang cố gắng thoát ra, vậy mà chúng tôi lại bị đẩy vào nguyên khối bạo lực này. Thật là khó! Gayatri Spivak đã rất thông minh khi nói rằng: “Đôi khi bạn cần phải sử dụng chủ nghĩa bản chất mang tính chiến lược [strategic essentialism]”. Điều đó rất đúng, khi bạn cần phải tập hợp lại với nhau: Người Mỹ gốc Á là một khối thống nhất giả tạo, nhưng bạn cần phải ở cùng nhau để tạo thành một kiểu cộng đồng chiến đấu cho quyền lợi của bạn và đại diện cho nhau. Nhưng có rất nhiều mâu thuẫn bên trong. Tôi đã tình cờ va phải điều đó và ngay lập tức nó giống như một khoảnh khắc chói sáng, bởi vì tôi lớn lên trong một cộng đồng da đen và da nâu, tôi đã chịu ảnh hưởng từ Toni Morrison […] từ rất sớm, Morrison, khi làm biên tập viên ở Random House, đã nói: Tôi biết rằng hầu hết độc giả của tôi là người da trắng nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không thể viết cho phụ nữ da đen. Nó không loại trừ nhau, phải không? Cũng như vậy, anh biết đó, Lev Tolstoy chắc không bao giờ hình dung được một cô gái da đen từ Lorain, Ohio [tức Toni Morrison] lại có thể được truyền cảm hứng từ những cuốn sách của ông. Vậy nên tôi cảm thấy mình thật may mắn khi kế thừa hiểu biết này từ Morrison từ trước đó rất lâu, vậy mà tôi vẫn bị sốc. Dù trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy đồng cảm với nhà thơ cao niên kia, nó vẫn khiến tôi bị sốc khi thấy ông dễ dàng cho rằng toàn bộ dự án này chỉ là để thoả mãn người da trắng hoặc phủ nhận những kỳ vọng của họ. Những gì tôi thấy chỉ là một người đang di chuyển từ đầu bên này sang đầu bên kia của chiếc lồng.