Phần 1

 

Xem phần chú thích để biết thêm về video này.

 

[DVAN vừa tổ chức buổi trò chuyện giữa hai nhà văn Mỹ gốc Việt – Viet Thanh Nguyen và Ocean Vuong – vào ngày 14/11/2025. Tôi có đăng kí tham dự online nhưng vì event diễn ra lúc 3g sáng giờ VN nên nay mới nghe lại podcast (public trên Youtube).
Vì quá hay và hữu ích, tôi chuyển dịch lại một phần rất nhỏ cuộc trò chuyện dưới đây. (Vì quá dài, nên không thể đăng hết một lần, nếu có thời gian, tôi sẽ tiếp tục chuyển dịch là đăng thành nhiều lần khác).
Do vừa nghe vừa ghi chép (nên không thể trau chuốt), và chủ yếu là nắm ý chứ không dịch sát nghĩa, nên có thể có sai sót. Một số chỗ […] là tôi lược bớt những câu đệm hay trùng lặp ý.]
———
Về tính dễ tổn thương, hay là bản chất của quyền lực
[tiêu đề do người dịch chọn]

(Ảnh: Viet Thanh Nguyen – Photo by BeBe Jacobs Ocean Vuong – Photo by The Guardian/Anselm Ebulue)

Viet Thanh Nguyen: Có thể bạn không đồng ý với tôi, nhưng tôi thường hình dung phong cách hay “persona” của bạn là tính dễ tổn thương tận gốc rễ [radical vulnerability], hay có thể bị diễn giải là điểm yếu. Nhưng trong thời đại này, khi sự đồng cảm có thể bị tấn công bởi tầng lớp nhất định ở Mỹ hay trên khắp thế giới, thì tính dễ tổn thương tận gốc rễ này có khi cũng là điểm mạnh. Bạn có đồng ý việc người ta nhìn nhận bạn như thế không?
Ocean Vuong: Tôi nghĩ mọi sự đều mang tính tương đối. Và mọi tính dễ tổn thương ở Mỹ đều thuộc về gốc rễ vì chúng ta được dạy rằng với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, mọi thứ đều là về sức mạnh, qua sức mạnh. Ở tầng tâm lý sâu hơn, tôi quan sát thấy, từ vị trí của một người nhập cư, một người được nuôi dưỡng từ nền văn hoá này, đó chỉ là tấm áo giáp mỏng manh chúng ta khoác lên người để che giấu bản ngã thực. Tôi nghĩ tính dễ tổn thương không phải là cái gì chúng ta tạo ra, mà nó đã luôn ở đó. Khi bạn nói chuyện với ai đó tầm 20 phút, bạn sẽ nhận ra họ dễ tổn thương như thế nào, động cơ của họ xoay quanh nỗi sợ, nỗi sợ mất tình yêu, mất chính mình, mất cộng đồng và gia đình […] Rằng chúng ta là một giống loài mềm yếu, chúng ta không đến đây với tấm áo giáp. Nên tôi nghĩ rất có lý khi chúng ta phản ứng bằng một loại áo giáp tinh thần và ẩn dụ để băng qua thế giới này. Và rõ ràng là ở Mỹ, nơi mà huyền thoại, truyện dân gian xoay quanh các đấng Tổ phụ mạnh mẽ và không thể sai lầm, như George Washington chẳng hạn, về mấy cái răng bằng gỗ […] những kiểu chuyện kỳ quặc như vậy là để che giấu một thực tại đen tối, rằng răng của ông được làm từ răng của người nô lệ. Tôi nghĩ chúng ta luôn phải đối mặt với một dạng Mount Rushmore [núi đá khắc 4 gương mặt tổng thống Mỹ – N.H.A chú thích] kiểu vậy của sức mạnh và quyền lực, nhưng với tôi thực ra nó như kiểu năng lượng của thứ “dương vật nhỏ” mà thôi. Nếu bạn cần một thứ gì đó như Mount Rushmore để phá hoại một ngọn núi tự nhiên nhằm thể hiện sức mạnh, thì tự sâu thẳm bên trong bạn biết rằng thực ra không thật sự có sức mạnh nào ở đó. Trong sâu xa bạn biết rằng quốc gia này được sáng lập dựa trên nỗ lực diệt chủng người Mỹ bản địa và buôn lậu nô lệ từ Phi châu. Đó là nhận thức của tôi. Và điều tôi thú vị với tác phẩm của mình là việc dùng ngôn ngữ để tước bỏ lớp áo giáp đó để trình hiện những gì thực sự ở bên trong.
Viet Thanh Nguyen: Tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta đều có nhiều suy tư về hoàn cảnh nước Mỹ và phân tích của bạn rất liên quan. Có lẽ chúng ta có ít nhiều thoả mãn khi biết rằng những người đang gây ra bạo lực, ở bất kỳ hình thức nào, đều có sự dễ tổn thương nào đó sâu bên trong họ. Nhưng không thể chối cãi là khi những người đó hành động và ban hành chính sách, thì kết quả là người ta bị chết, bị bóc lột. Chuyện khác bạn đề cập tới là về người nhập cư, tị nạn, con cháu của người nhập cư hay tị nạn, đó là đề tài cám dỗ đối với những đại tự sự từ các bậc tổ phụ và nhiều người nữa. Trong khi từ chối thừa nhận sự đồng loã, nhiều người trong chúng ta đến Mỹ như người tị nạn hay nhập cư hay con cháu của họ lại đang đồng loã theo nhiều cách khác nhau với nhiều vấn đề của nước này: việc bóc lột nội địa người nghèo và tầng lớp lao động, chính sách đế quốc và diệt chủng. Thật sự khó cho nhóm người được gọi là thiểu số thừa nhận chuyện đó. Tôi nghĩ một phần của tính dễ tổn thương là thừa nhận sự thoả hiệp của chúng ta, rằng chúng ta không chỉ chúc tụng huyền thoại và thành tựu chúng ta có, mà ta cũng phải thừa nhận sự thoả hiệp. Vấn đề nữa bạn đề cập tới của tính dễ tổn thương là thừa nhận cái gì đó là phổ quát trong tất cả chúng ta. Nhưng có khác biệt giữa những gì bạn làm so sánh với nhiều người sẵn sàng thừa nhận tính dễ tổn thương của họ, vì với họ, khi thừa nhận điều đó, nó chỉ đơn thuần là thu hút sự chú ý về chính họ. Có lẽ không phải tất cả chúng ta đều muốn trải qua điều đó. Bạn có nghĩ rằng khi bạn nói về tính dễ tổn thương, đó không chỉ là thừa nhận tính dễ tổn thương của chính bạn, mà còn thừa nhận rằng bạn đang lắng nghe và chú ý đối với tính dễ tổn thương của người khác. Vì sao rất khó để người ta thừa nhận tính dễ tổn thương của mình lẫn của người khác?
Ocean Vuong: Việc này rất khó và đáng sợ. Tôi nghĩ tri thức phương Tây về thế giới vật chất được thúc đẩy bởi nỗi sợ về cái chết. Tư tưởng này đưa ta trở lại với Plato. Tưởng tượng của Plato đưa đến việc từ chối thân thể và chỉ sống trong tâm trí. Plato tin rằng thế giới vật chất này chỉ là ảo giác và mọi vật đều có một mô thể chân thực của nó, và thế giới chỉ là thế giới của những cái bóng. Nghe thật trí tuệ và hợp lí. Và Platon còn đi xa hơn, đưa ra ý tưởng phát xít về quyền cấm các nhà thơ, vì ông sợ rằng thơ ca sẽ làm băng hoại đạo đức. Nhân tiện, Cộng hoà của Plato chỉ có khoảng 30.000 người. Nếu tôi sống trong một thị trấn 30.000 người, và nếu nghệ thuật và âm nhạc làm băng hoại tầng lớp quân đội và khiến họ cảm thấy đồng cảm, lo lắng và đánh động họ chiến đấu trước bất công, thì họ sẽ không còn bảo vệ cho tầng lớp quý tộc nữa, trong khi Plato thuộc nhóm rất có khả năng sở hữu nô lệ. Ông tin rằng ý tưởng này là một tri thức tốt đẹp. Tri thức tốt đẹp là tri thức vừa vặn. Nhưng viết lách thì không có chừng có hạn. Còn ông thì muốn ứng xử với việc viết như toán học. Ông muốn một phiên bản hình tam giác của văn học. Không thể, đúng không?! Một hình tam giác thì mãi mãi là một hình tam giác. Còn thơ ca thì luôn thay đổi, dựa vào ngôn ngữ, dựa vào người đọc nó, vào lịch sử. Vậy nên ông nghĩ văn học sẽ có ích cho nền cộng hoà khi mà ta có kinh điển, nên ta phải loại bỏ các tác phẩm mới. Bạn thấy đó, Hitler đã nỗ lực làm điều đó, Stalin, Pol Pot cũng vậy, và giờ chúng ta cũng thấy những lệnh cấm sách. Những nỗi sợ này dựa vào ảo giác rằng chúng ta có thể sống mãi mãi. Nỗi sợ chết quá mạnh mẽ. Như một Phật tử – tôi luôn là một Phật tử trước khi là một nhà văn – khi tôi nhìn vào thầy Thích Nhất Hạnh chẳng hạn, hay thậm chí là Phật Thích Ca, tôi thấy họ đã nhìn thấy tiểu sử của mình như một phần của vòng luân hồi trong toàn bộ kiếp người, nên không ám ảnh về nó. Nó không giống như kiểu đây là kinh nghiệm của tôi, mà là một phần của persona [nhân dạng hay cái tôi được kiến tạo – N.H.A chú thích] hay mythos [huyền thoại hay nguyên mẫu tự sự] của tôi. Văn hoá có thể làm điều đó. Truyền thông có thể làm điều đó. Nhưng bạn thì không thể, vì đây là nước Mỹ. Khi Thích Nhất Hạnh công bố nhật ký của ông, ta thấy nó cực kỳ dễ bị tổn thương về mặt chính trị, nó bị phản pháo vì hoạt động kêu gọi hành động của ông, nhưng ông phải kiên định trong việc không chọn phe vì ông tin vào mối liên kết về nghiệp quả. Nếu tôi chọn phe, tôi phải loại trừ phía bên kia và bắt đầu tạo ra nghiệp của chính tôi lần nữa, vì rồi tôi sẽ tái sinh vào phía bên kia, đúng không? Mọi thứ đều trôi qua cõi nhân sinh này. Tôi thấy rất lạ là phương Tây hiểu được điều đó. Trong cộng đồng di dân của chúng ta, đặc biệt là di dân Việt Nam, mỗi Chủ nhật bạn đi chùa, lắng nghe bài giảng từ một nhà sư, và thông thường là họ sẽ bắt đầu đề cập đến chiến tranh. Lần đầu tiên tôi nghe về bom đạn là từ nhà chùa, và tôi nhận ra rằng nó không chỉ là văn chương tự truyện núp trong tư tưởng của giới tinh hoa, mà là cách cộng đồng chúng ta chia sẻ và gắn kết, cho nhau công cụ tồn tại qua việc thừa nhận rằng: không, bạn không điên đâu, bạn đã thấy bom đạn và bom napalm trông như vậy đấy. Từ quan điểm của Phật giáo và của di dân Việt Nam, tôi đưa nó vào văn chương hư cấu. Tôi thường nhảy dựng lên khi nhà phê bình hay nhà báo nào đó nói tác phẩm của tôi là tự truyện (autofiction), đúng, và đó chỉ là một phần nhỏ hướng đến một cách tiếp cận lớn hơn theo kiểu phi văn chương.
…….
Chú thích:
Nguồn Youtube: ÁCCENTED #50 | Ocean Vuong in Conversation with Viet Thanh Nguyen

Đây là bản ghi của tập thứ 50 của chương trình ÁCCENTED do DVAN thực hiện, với sự tham gia của nhà văn đoạt nhiều giải thưởng Ocean Vuong trong cuộc trò chuyện cùng Viet Thanh Nguyen.

Sự kiện trực tuyến diễn ra vào ngày 13 tháng 11 năm 2025.


GIỚI THIỆU KHÁCH MỜI

Ocean Vuong là tác giả của các tập thơ được giới phê bình đánh giá cao Night Sky with Exit WoundsTime Is a Mother, cũng như tiểu thuyết bán chạy theo danh sách New York Times On Earth We’re Briefly Gorgeous. Anh là người nhận Học bổng MacArthurGiải thưởng Sách Mỹ (American Book Award).

Trước đây, Ocean Vuong từng làm việc trong ngành phục vụ đồ ăn nhanh – trải nghiệm này đã truyền cảm hứng cho tác phẩm The Emperor of Gladness. Sinh ra tại Sài Gòn, Việt Nam, hiện nay anh chia thời gian sinh sống giữa Northampton, bang Massachusetts, và thành phố New York.


GIỚI THIỆU NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH

Tiểu thuyết The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen đã giành Giải Pulitzer cho hạng mục Tiểu thuyết cùng nhiều giải thưởng danh giá khác. Ấn phẩm gần đây nhất của ông là A Man of Two Faces: A Memoir, A History, A Memorial.

Các tác phẩm khác của ông bao gồm:

  • The Committed – phần tiếp theo của The Sympathizer

  • The Refugees – tập truyện ngắn

  • Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War – lọt vào chung kết Giải Sách Quốc gia Hoa Kỳ (phi hư cấu) và Giải Hội phê bình sách quốc gia

  • Race and Resistance: Literature and Politics in Asian America

Ông cũng là đồng tác giả cuốn sách thiếu nhi Chicken of the Sea, viết cùng con trai mình là Ellison. Viet Thanh Nguyen hiện là Giáo sư Đại học tại Đại học Nam California (USC).

Ông từng nhận các học bổng từ Quỹ GuggenheimQuỹ MacArthur, đồng thời là biên tập viên của tuyển tập The Displaced: Refugee Writers on Refugee Lives, cũng như cuốn sách thiếu nhi sắp ra mắt Simone, minh họa bởi Minnie Phan.


VỀ DVAN

Mạng lưới Nghệ sĩ Việt Nam Hải ngoại (Diasporic Vietnamese Artists Network – DVAN) được thành lập với mục tiêu đưa tiếng nói và câu chuyện của cộng đồng người Việt hải ngoại từ bên lề vào trung tâm đời sống văn hóa.

Trong hơn 20 năm, DVAN đã nâng đỡ các nhà văn và nghệ sĩ gốc Việt thông qua các sự kiện cộng đồng, chương trình lưu trú sáng tác và cơ hội xuất bản, góp phần định hình và mở rộng diễn ngôn văn hóa chung.
Tìm hiểu thêm tại: dvan.org


VỀ ÁCCENTED

ÁCCENTED là chương trình trò chuyện và podcast được đánh giá cao của DVAN, do Viet Thanh Nguyen (tác giả đoạt giải Pulitzer) và Philip Nguyen (nhà hoạt động cộng đồng) dẫn dắt.

Ra mắt từ năm 2020, ÁCCENTED đã trở thành một nền tảng toàn cầu cho những cuộc đối thoại sâu sắc và giàu tư duy, góp phần khuếch đại tiếng nói của các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ thị giác và những người sáng tạo văn hóa thuộc cộng đồng người Việt và Đông Nam Á hải ngoại.


Phần 2

Ist möglicherweise ein Bild von eine oder mehrere Personen und Text

Viet Thanh Nguyen: Tôi là một người Công giáo và theo nhiều cách, thực ra tôi là một người vô thần. Huyền thoại của Công giáo và những truyện kể về sự đau khổ, hi sinh và cứu chuộc, và cuộc sống sau cái chết đã ảnh hưởng đến tiểu thuyết của tôi và cách viết của tôi. Với bạn thì Phật giáo định hình bạn, tinh thần bạn, tác động đến lối viết của bạn, điều này thật sự rất hay. Khi bạn nói về Thích Nhất Hạnh và ý tưởng về tự truyện, tôi nghĩ lằn ranh giữa tính tâm linh, thơ ca… là cực kỳ mỏng manh trong tác phẩm của ông. Bạn có thể làm rõ hơn điều đó […] Bạn cũng vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết mới “Hoàng đế xứ Gladness” kể về một người Mỹ gốc Việt bỏ học đại học tìm thấy chính mình trong tình huống khi anh ta trở thành một người chăm sóc đồng thời là người bạn với cụ bà Lithuania vốn là người tị nạn đang trên bờ vực của chứng mất trí nhớ. Anh ta cũng đang cố gắng tồn tại về phương diện kinh tế bằng cách tìm một công việc trong chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và tác phẩm cũng phơi bày sự hoảng loạn của những công nhân đang vật lộn kiếm sống. Bạn có thể cho chúng tôi biết là bạn đã đưa vào đó chất tự truyện, hay nói về Phật giáo, về tinh thần như thế nào, và tác động cụ thể của những điều đó vào cuốn tiểu thuyết này?
Ocean Vuong: Tôi thường được hỏi là phần nào trong đời thực dệt thành tác phẩm của tôi. Tôi không xấu hổ vì điều đó. Tôi luôn nói rằng “Moby Dick” cũng là một tác phẩm tự truyện. Tôi từ chối ý nghĩ rằng nhiều nghệ sĩ Mỹ hình dung nghệ thuật không đến từ đâu. Một lần nữa, nó đến từ tư tưởng phương Tây, như khi Homer viết Iliad, ông đã cầu xin những thi thần giúp mình, ban cho ông sự thánh thiêng và chúc phúc cho công việc [sáng tác] này. Milton cũng vậy: ta ở đây để truyền đạt đường lối của Chúa đến loài người. Vậy nên ông như một kiểu bình chứa mà thông tin xuất phát từ địa hạt cao hơn, siêu vượt hơn, và cũng cho phép bạn cảm thấy như mình là người được chọn để làm công việc này. Tôi luôn phản đối ý tưởng đó. Tôi chỉ nghĩ là tất cả chúng ta đều là những con người tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, và vì như thế nên câu văn của Nabokov mới thay đổi khi ông chuyển từ viết tay sang đánh máy. Tư tưởng chúng ta hình thành từ thời đại chúng ta. Vậy nên tôi bắt đầu từ đó. Tôi không nghĩ có một loại tri thức toàn thể để người ta khai thác. Chỉ là chúng ta ở đây và viết từ đây. Tư tưởng đó cũng được hình thành từ Phật giáo. Nghiệp [karma] là kết quả của hành động. Nghiệp thường bị hiểu lầm ở phương Tây như là hậu quả hay sự trả thù, nhưng định nghĩa cốt lõi là ở hành động và mối quan hệ nhân quả. Nên có nghiệp tốt, nghiệp xấu. Đối với tôi, có những phần trong đời tôi vừa đẹp đẽ vừa kinh khủng mà hầu hết độc giả không bao giờ biết được, vì tôi không thể biến nó thành ý tưởng. Là một nhà thơ và người viết tiểu thuyết, tôi lưu thông trong thế giới của ý tưởng. Ngược lại, một nhà báo trước tiên phải lưu thông trong thế giới các dữ kiện thực hay những ý tưởng xuất phát từ sự thật. Với tôi, đầu tiên phải là ý tưởng. Vì vậy, phần tự truyện đời tôi mà người ta nhận ra, là phần tôi có thể đan dệt vào một hệ thống ý tưởng quan trọng đối với tôi. Trái lại, có những đoạn đời của tôi mà chúng chỉ ở đó thôi, chúng là dữ kiện thực, nhưng tôi không thể giành lấy và đưa vào hệ thống ý tưởng. Tôi nghĩ rằng đó là điểm khác biệt giữa lời thú tội trống rỗng và nghệ thuật, vốn được sắp đặt và có tính chiến lược.
Trong cuốn sách đầu tiên của tôi, nó như một tuyên bố của người nghệ sĩ, “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” là nơi tôi sử dụng thơ ca, triết học, chiến lược và lý thuyết để từ chối kể một câu chuyện. Và nhiều người không vui với cuốn sách này vì tôi không muốn mời mọi người đi vào sân khấu của cuốn sách, mang theo bắp rang và ngồi xem nỗi đau của người Mỹ gốc Việt, vì tôi biết đó là điều người ta trông đợi nơi tôi. Tôi biết mọi người sẽ đến, sẽ ngồi lại. Nên tôi không muốn kể một câu chuyện. Thực ra, thay vào đó, cuốn sách như một chuyên luận về tư duy. Yếu tố vật chất của sự cấu tạo văn bản luôn được cảm thấy đầu tiên nơi tác phẩm này. Tôi mượn cách làm đó từ “Go Tell It on the Mountain” của Baldwin. Ông biết rằng đó là tác phẩm đầu tay của mình, ra mắt vào những năm 1950. Baldwin biết về thời điểm đó, biết rằng giới văn học da trắng muốn ông đưa đi tham quan khu Harlem [một không gian văn hoá biểu tượng của người Mỹ gốc Phi – N.H.A]. Ông biết và cũng biết cách nó được tiếp thị như thế nào. Nhưng những gì ông đã làm thì thật đẹp. Tác phẩm của ông khoảng 300 trang. Dòng thời gian của cuốn sách chỉ kéo dài 24 tiếng. Và những gì ông làm, thay vì cung cấp một phòng trưng bày chân dung tạo hình một gia đình người da đen đến đây từ cuộc đại di cư, thì tác phẩm di chuyển theo chiều ngược lại: Mỗi nhân vật là một cánh cửa dẫn vào quá khứ. Nó tương tự việc yêu cầu mọi người lên một chuyến tham quan bằng xe buýt và rồi Baldwin bước lên xe, cầm mic và nói: “Chúng ta không có động cơ, không có bánh xe, nhưng tôi sẽ nói chuyện với bạn trong 300 trang giấy”.
Còn cuốn “Hoàng đế xứ Gladness” là nỗ lực của tôi để đưa ý tưởng vào hành động. Ý tưởng đó là: Cuộc sống của người Mỹ là cuộc sống xuất phát từ chiến tranh. Ở đây, chúng ta đo thời gian bằng chiến tranh. Bạn từng thử thuê một căn hộ và người môi giới nói với bạn rằng căn hộ đó được phục dựng sau chiến tranh chưa? Hay, đó là một trang trại kiểu trước nội chiến – “Ý anh là một đồn điền cũ?”. Kiểu vậy. Đi đến khoa Anh ngữ, và những cuốn tiểu thuyết hay nhất là tiểu thuyết hậu chiến, đúng không? Những văn bản vĩ đại nhất là văn bản thời nội chiến trong kỷ nguyên Victoria. Chúng ta đo thành công và danh mục truyền thông và văn hoá thông qua bạo lực. Chúng ta cũng đo lường chính chúng ta bằng bạo lực – “bạn đang giết nó”, “bạn đang đập nát nó”. Khi nghĩ về bản chất của người Mỹ, ta thường nghĩ về hai con người sống và phát triển ở ngoại ô, như tác phẩm của John Shaver, John Updike vào hồi giữa thế kỷ, còn tôi muốn viết một cuốn sách mà trong đó, người Mỹ thường trú ở đây là hai con người đến từ hai lục địa khác nhau, hai cuộc chiến tranh khác nhau, cách nhau 40 tuổi, sống chung dưới một mái nhà, cố gắng để hiểu di sản bạo lực mà họ thừa kế.
Viet Thanh Nguyen: Bạn có nói về “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” và thực ra đó không phải là cuốn đầu tiên. Ý tôi là trước đó bạn đã là một nhà thơ và trước khi xuất bản “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian”, tập thơ “Trời đêm những vết thương xuyên thấu” đã là một tác phẩm quan trọng, nó cũng tác động lớn đến phê bình và văn hoá. Nhưng nhiều người đọc “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” của bạn trước tiên và cuộc sống của bạn đã có nhiều thay đổi kể từ sau cuốn sách đó. Khi tôi gặp bạn lần đầu vào năm 2017, bạn mới trở thành một tiểu thuyết gia, và là một nhà thơ. Chúng ta đang sống trong một xã hội mà tôi nghĩ là không có quá nhiều sự chú ý dành cho nhà thơ và thơ ca, người ta chú ý hơn đến tiểu thuyết gia. Giờ đây bạn đã có sự nghiệp thứ hai, tôi không biết “sự nghiệp” có phải là từ đúng không, dù vậy bạn đã trở thành một tiểu thuyết gia bên cạnh một nhà thơ. Điều gì đã thay đổi nơi bạn trong vài năm nay? Ý tôi là về mối quan hệ giữa nghệ thuật và hình thức mà chúng ta đang bàn tới. Nhưng văn chương chúng ta viết và những gì chúng ta đọc đang bị đắm chìm trong thế giới vật chất. Bạn có nói về lịch sử bạo lực và chiến tranh vốn cấu trúc nên ý niệm văn chương của chúng ta và tạo ra sự phân kỳ. Nhưng còn có lịch sử của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa hàng hoá mà ở đó, sách bị đối xử như hàng hoá. Sự nghiệp bị đối xử như hàng hoá. Tác giả bị đối xử như hàng hoá. Tôi cho rằng danh vọng bao quanh bạn, bất chấp bạn muốn nó hay không, theo một cách nào đó đã ảnh hưởng đến mối quan hệ của bạn với việc viết lách hoặc cách bạn di chuyển trong thế giới này với tư cách là một nhà văn.
Ocean Vuong: Mọi chuyện trở nên to lớn hơn, đó là điều chắc chắn, nhưng tôi luôn phải kháng cự lại. Tôi nghĩ kháng cự nó luôn là trung tâm đời sống của tôi. Tôi biết mọi thứ đang diễn ra nhanh chóng nhưng tôi đã là nhà văn chuyên nghiệp từ khi tôi 15 tuổi và tôi đã nhìn thấy chuyện đó đến. Tôi đã có một khoá học cấp tốc về chuyện đó khi rời nhà đến New York năm 17 tuổi và được mở mang đầu óc. Tôi hiểu rõ sự huỷ hoại mà danh tiếng mang lại, nhưng một lần nữa, tôi đến với trang giấy với tư cách là một người thực hành Phật pháp nghiêm túc. Tôi định đi tu trước khi trở thành nhà văn. Và có một cố vấn hướng nghiệp ở trường trung học đã thay đổi con đường của tôi. Tôi định đi đào tạo ở California tại một nơi gọi là Đại học miền Tây, rồi tôi sẽ đến Làng Mai và xuống tóc. Tôi đã được mẹ chúc phúc. Tất cả đã lên kế hoạch. Và rồi người cố vấn hướng nghiệp tình cờ đó nói: “Sao em không đi học trường cao đẳng cộng đồng? Nó miễn phí mà. Khoản trợ cấp Pell Grant có thể cho em 5000 đô”. Vào lúc đó, mẹ tôi kiếm được 12.000 đô một năm. Chúng tôi sống trong khu nhà trợ cấp của chính phủ [section 8 housing]. Nên, 5000 đô ư, tôi kiểu: “Trời ơi, tôi sẽ lấy phần đó rồi đưa cho mẹ tôi và trở thành một tu sĩ”. Rồi tôi học môn Viết 101 ở đại học. Đến giờ tôi vẫn không thể tin được. Đó là môn Viết 101 tại Cao đẳng Cộng đồng Manchester. Giảng viên là một cựu giáo sư Harvard đã nghỉ hưu và lớp học này có vẻ buồn chán đối với bà. Nhưng thay vì dạy chúng tôi cách viết email trang trọng, vốn là mục tiêu để những sinh viên nghèo này có việc làm, bà đưa cho chúng tôi những trang viết của Milton Friedman, Annie Dillard, Baldwin, Camus. Chúng tôi nghiên cứu cả trường hợp Lizzie Bordon. Với tôi, việc viết lách là để tôi hiểu về nỗi đau của thế giới chúng ta, và ở khía cạnh vật chất thì nó giúp tôi hỗ trợ được cho gia đình mình. Vậy là tôi hoàn toàn dấn thân vào con đường đó. Thú vị là, đó lại là lý do tôi chuyển đến học ở trường kinh doanh để có thể chăm sóc gia đình. Mục đích đó chưa bao giờ thay đổi, ngoại trừ việc tôi đã có thể lo cho gia đình mình bằng lời của tôi, bằng sách tôi viết ra.
Việc tôn sùng sự thanh lọc nơi nghệ sĩ Mỹ, đặc biệt là nơi người tị nạn hay những nghệ sĩ nghèo, là ở chỗ họ trốn thoát. Họ đi mất, rời khỏi phần còn lại bụi bặm, vượt thoát và vươn lên từ chốn họ xuất thân. Tôi luôn từ chối ý niệm này vì nó thật vừa vặn với chủ nghĩa tư bản, với huyễn tưởng đế quốc, rằng bất cứ thứ gì đáng giá cũng phải vươn lên, thay vì tạo ra hệ thống có thể sửa chữa và giúp đỡ con người ở tại đó để không cần phải trốn thoát, để giữ phẩm giá và quyền tự chủ. Vậy là, tôi trở lại, với câu chuyện mà không phải nhà báo hay báo chí nào cũng muốn nghe, nhưng mục đích của tôi luôn là như thế: mục đích kiếm tiền giúp đỡ gia đình. Tôi sống ở New England. Toàn thể gia đình tôi ở đây, tất cả sống ở khu Hartford. Dì tôi vẫn làm việc ở FedEx. Anh chị em họ tôi làm nail. Nhiều người làm việc ở nhà máy. Tôi còn rất trẻ và gia đình tôi cũng rất trẻ. Mẹ tôi mất lúc 51 tuổi. Dì tôi ngoài 50. Anh chị em họ tôi từ 20 đến trên 30. Nên tôi vẫn ở đây, tôi không thể bỏ đi. Có một phóng viên nói với tôi về Annie Ernaux và những nhà văn Pháp thuộc tầng lớp lao động, họ nói Annie Ernaux tự gọi mình là kẻ đào ngũ, kẻ phản bội giai cấp, và hỏi tôi thấy chuyện đó thế nào. Tôi trả lời, tôi có thể hiểu điều đó, có thể hiểu được trong hoàn cảnh của bà, nhưng khi tôi nghĩ về chính mình thì chuyện đó lại không phù hợp. Tôi nhận ra là tôi không thể rời đi. Điểm khác biệt ở chỗ, bà [Annie Ernaux] là một phụ nữ da trắng trong một quốc gia hầu hết là da trắng, bà có thể chỉ việc ra đi và không cần có bổn phận với ai xung quanh. Trái lại, tôi có công việc ở Stanford, Paris, Đức – những công việc yêu thích. Khi những việc đó đến, tôi không thể đi được. Tôi phải ở đây, nó thậm chí còn không phải là gánh nặng. Tôi nghĩ nhiều di dân cũng chia sẻ suy nghĩ này, tôi đang nói về một phụ nữ Việt Nam khác, làm việc trong lĩnh vực kinh doanh và chúng tôi gặp nhau cách đây vài tuần tại một buổi gây quỹ ở Hartford. Cô ấy nói với tôi: “Tôi đã làm việc cho một công ty Mỹ, tôi là luật sư doanh nghiệp, kiếm được rất nhiều tiền. Rồi khi ba tôi bị bệnh mất trí nhớ, ở Hartford, ngay lập tức tôi báo là tôi sẽ về nhà, vì ba tôi chính là nhà của tôi”. Nó thậm chí còn không cần thương lượng, chỉ là “Tôi sẽ bỏ việc và về nhà, vì đó là chuyện tất yếu”. Bạn biết không, tôi đã không nhận ra rằng khi tôi bắt đầu trở thành nhà văn, là tôi đang làm điều gì đó phóng khoáng, nổi loạn, nhưng rồi tôi nhận ra rằng thực ra đó cũng chính là câu chuyện mà rất nhiều anh chị em người Mỹ gốc Việt đã trải qua, rằng chúng tôi chỉ đang chăm lo gia đình mình. Đó là phần khó nhất, cô đơn nhất của việc là một người Mỹ gốc Việt trong xã hội Mỹ Á.
Tôi xin lỗi vì đã dài dòng, nhưng khi tôi mới đến Harford và New York, tôi nhớ có một khoảng khắc rất đặc biệt khi tôi nói chuyện với một người lớn tuổi, một nhà thơ cao niên – tôi sẽ không nói tên, vì tôn trọng ông. Chúng tôi đang dự tiệc mừng tác phẩm của ông và tôi ngưỡng mộ ông ấy, ông đã viết nhiều cuốn sách; ông kể với tôi về câu chuyện đẹp của ông, về gia đình ông, về việc nhập cư, và chúng tôi chia sẻ những câu chuyện đó như thể có mối gắn kết với nhau. Rồi tôi nói ông nên viết về nó, dù dưới bất kì hình thức gì. Ông đáp lại: “Tôi không muốn đem gia đình mình ra làm trò cho người da trắng”. Khi đó tôi nhận thấy rằng có một nỗi buồn lớn lao ở trong tôi, bởi vì tôi kiểu như: Ồ, chúng tôi đang ở đây, trong căn phòng đầy người Mỹ gốc Á, và tôi đã đọc tất cả tác phẩm của ông ấy, tôi đang ngồi trước mặt ông, còn ông không xem tôi như một độc giả. Ông không thấy tác phẩm của ông cũng là dành cho những người như tôi, và cái nhìn của người da trắng mạnh mẽ đến mức nó đã hút hết mọi giả định về sản phẩm văn hoá của ông. Tôi nhận thấy có một điều tôi đã không hiểu trước đây, đó là tôi trưởng thành trong một cộng đồng nhập cư da đen và da nâu, người Haiti, Jamaica, Dominica, Puerto Rico, và vì vậy, từ năm 2 tuổi khi tôi đến đây [Mỹ] cho đến năm 18 tuổi, tôi đã không sống cùng với người da trắng. Tôi đã không nhận thấy điều đó. Mà đó chỉ là điều bình thường. Rồi khi đến New York và bắt đầu có nhiều người Mỹ gốc Á xung quanh tôi hơn, tôi nhận ra Đạo luật Loại trừ người Trung Quốc đã tạo ra một khoảng chân không của tầng lớp trung lưu Mỹ Á, là những người được chọn nhờ giỏi kĩ năng được cho phép vào nước Mỹ, và cha mẹ họ là luật sư, bác sĩ, doanh nhân, rồi họ đi đến các trường hàn lâm. Vậy nên nghệ sĩ, giới học thuật chủ yếu đến từ tầng lớp trung lưu, nhưng mà họ cũng lớn lên với người da trắng ở xung quanh. Vậy là khoảng khắc giật mình đó đã biến thành một niềm cảm thông lớn lao khi tôi nhận ra, ồ, mình không biết việc lớn lên trong sự bao quanh bởi cái nhìn của người da trắng và phải thương lượng với cái nhìn đó mỗi ngày là như thế nào – vì tôi chưa bao giờ trải qua điều đó.
Và tôi lại nhận ra rằng, bởi vì người Mỹ gốc Việt lúc bấy giờ là cộng đồng còn tương đối mới, mà huyền thoại về nhóm thiểu số kiểu mẫu [model minority] là thứ người ta yêu thích đặt để người Mỹ gốc Á vào, vì đó là kiểu người đạt thành tích cao, có bằng cấp cao, kiếm được nhiều tiền – trong khi người Mỹ gốc Việt thì lại chẳng vừa với kiểu mẫu đó. Chúng tôi được đặt vào đó, nhưng thực sự chúng tôi đang làm tỉ lệ [kiểu mẫu] giảm xuống, vì chúng tôi có tỉ lệ tự tử cao, vấn đề sức khoẻ tâm thần cao, không có bằng tốt nghiệp trung học hay bằng tương đương [nguyên văn: GED], vì chúng tôi vẫn còn mới và trải nghiệm tị nạn đặt chúng tôi vào tình trạng nghèo đói mà chúng tôi vẫn đang cố gắng thoát ra, vậy mà chúng tôi lại bị đẩy vào nguyên khối bạo lực này. Thật là khó! Gayatri Spivak đã rất thông minh khi nói rằng: “Đôi khi bạn cần phải sử dụng chủ nghĩa bản chất mang tính chiến lược [strategic essentialism]”. Điều đó rất đúng, khi bạn cần phải tập hợp lại với nhau: Người Mỹ gốc Á là một khối thống nhất giả tạo, nhưng bạn cần phải ở cùng nhau để tạo thành một kiểu cộng đồng chiến đấu cho quyền lợi của bạn và đại diện cho nhau. Nhưng có rất nhiều mâu thuẫn bên trong. Tôi đã tình cờ va phải điều đó và ngay lập tức nó giống như một khoảnh khắc chói sáng, bởi vì tôi lớn lên trong một cộng đồng da đen và da nâu, tôi đã chịu ảnh hưởng từ Toni Morrison […] từ rất sớm, Morrison, khi làm biên tập viên ở Random House, đã nói: Tôi biết rằng hầu hết độc giả của tôi là người da trắng nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không thể viết cho phụ nữ da đen. Nó không loại trừ nhau, phải không? Cũng như vậy, anh biết đó, Lev Tolstoy chắc không bao giờ hình dung được một cô gái da đen từ Lorain, Ohio [tức Toni Morrison] lại có thể được truyền cảm hứng từ những cuốn sách của ông. Vậy nên tôi cảm thấy mình thật may mắn khi kế thừa hiểu biết này từ Morrison từ trước đó rất lâu, vậy mà tôi vẫn bị sốc. Dù trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy đồng cảm với nhà thơ cao niên kia, nó vẫn khiến tôi bị sốc khi thấy ông dễ dàng cho rằng toàn bộ dự án này chỉ là để thoả mãn người da trắng hoặc phủ nhận những kỳ vọng của họ. Những gì tôi thấy chỉ là một người đang di chuyển từ đầu bên này sang đầu bên kia của chiếc lồng.
(còn tiếp)
———–
Ảnh: Stephen Weppler— mit Viet Thanh Nguyen.

Xem thêm:

Author Ocean Vuong on his new book The Emperor of Gladness | 7.30

ABC News In-depth

American poet, writer and professor Ocean Vuong has written a new novel called The Emperor of Gladness about the working poor, set partly in a fast food restaurant in New England. It’s written with empathy and a turn of phrase that puts him in the company of the greatest novelists. 7.30’s Sarah Ferguson interviews Ocean Vuong.